Doanh nghiệp nhà nước tại Việt Nam có vai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Tại văn kiện Đại hội Đảng lần thứ XIII, Kinh tế nhà nước được khẳng định là công cụ, lực lượng vật chất quan trọng để Nhà nước giữ vững ổn Thực trạng quản trị nguồn nhân lực số trong các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay . Chuyển đổi số là tất yếu với sự phát triển của doanh nghiệp. Xu hướng ứng dụng công nghệ số ngày càng lan tỏa trong các quy trình hoạt động của doanh nghiệp. Đối với bộ phận nhân sự Hiện tại, ngành may mặc Việt Nam không thiếu khách hàng; tuy nhiên, muốn biến cơ hội thành của cải, các doanh nghiệp Việt phải phát triển theo xu hướng xanh - bền vững. Cụ thể hơn, sau khi 'số hóa' chúng ta cần phải 'xanh hóa' và nên tự mình làm các chứng chỉ […] Các hoạt động của doanh nghiệp đều sử dụng mạng internet trên các nền tảng kết nối khác nhau. Ngoài ra, nhiều địa phương cũng ứng dụng công nghệ số vào hoạt động quản lý kinh tế xã hội. Thực trạng ngành công nghệ thông tin ở Việt Nam, Sự phát triển của công Từ hơn 500 doanh nghiệp lọt qua vòng sơ khảo, Ban tổ chức (BTC) đã lựa chọn ra 100 DN xuất sắc nhất, đi đầu trong thực hiện phát triển bền vững (PTBV). Chủ tịch VCCI phát biểu khai mạc. Ngày 10/12/2020, dưới sự chỉ đạo của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, Lễ Vay Tiền Cấp Tốc Online Cmnd. Mỗi tháng gần doanh nghiệp rời thị trườngTheo đánh giá của Vietnam Report trong một báo cáo công bố ngày 10/11, năm 2020, thế giới đã chứng kiến và trải qua rất nhiều biến động, điều này ảnh hưởng đến không chỉ các quốc gia đang phát triển và những nền kinh tế nhỏ mà ngay cả các cường quốc lớn cũng phải chịu những tổn thất vô cùng nặng dịch Covid-19 bùng phát đã gây ra hàng loạt các tác động nghiêm trọng Gần 46 triệu ca bệnh, hơn 1 triệu người tử vong, khủng hoảng kinh tế, thất nghiệp không ngừng gia tăng, doanh nghiệp giải thể hoặc tạm ngừng sản xuất...Biểu đồ doanh thu và tốc độ tăng trưởng doanh thu theo ngành cho thấy, lĩnh vực tài chính vẫn "sống khoẻ" qua đại dịchTrong khảo sát do Vietnam Report thực hiện vào tháng 10/2020, có 24,4% doanh nghiệp đánh giá hoạt động sản xuất kinh doanh 9 tháng năm 2020 tăng so với cùng kỳ 2019 trong khi 36,6% doanh nghiệp đánh giá tình hình cơ bản ổn định và 39 % doanh nghiệp cho biết hoạt động sản xuất kinh doanh giảm trong khảo sát này, khi được hỏi về biến động doanh thu 9 tháng của năm 2020, có tới 41,5% doanh nghiệp cho biết doanh thu bị giảm so với cùng kỳ năm 2019, 43,9% doanh nghiệp đánh giá doanh thu tăng và chỉ có 14,6% doanh nghiệp cho rằng chỉ tiêu này là cơ bản ổn kết quả khảo sát được Vietnam Report tiến hành trong thời gian vừa qua, có 4 rào cản ảnh hưởng nhất đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong năm 2020, đó là Thị trường bị thu hẹp, nhu cầu mua sắm và tiêu dùng giảm do dịch Covid-19; tăng trưởng kinh tế không ổn định; chiến tranh thương mại giữa các quốc gia và các nền kinh tế lớn; gián đoạn, đứt gãy chuỗi cung Việt Nam, dịch Covid-19 đang được kiểm soát tốt và cuộc sống người dân dần đi vào ổn định kể từ đầu tháng 9. Tuy nhiên, những hậu quả do đại dịch này gây ra đối với nền kinh tế vẫn chưa kết thúc và các doanh nghiệp Việt Nam hiện đang nỗ lực vực dậy và phục hồi sau liệu của Tổng cục Thống kê cho thấy, trong 10 tháng có gần doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh có thời hạn, ngừng hoạt động chờ làm thủ tục giải thể và hoàn tất thủ tục giải thể, tăng 15,1% so với cùng kỳ năm trước, nghĩa là trung bình mỗi tháng có doanh nghiệp rút lui khỏi thị nghiệp Việt lên kế sách “đón sóng” FDIChuyên gia Vietnam Report cho rằng, trên thực tế, những rào cản, thách thức như thị trường bị thu hẹp, nhu cầu tiêu dùng giảm, tăng trưởng kinh tế không ổn định, gián đoạn, đứt gãy nguồn cung ứng đều xuất phát từ sự bùng phát của đại dịch Covid-19. Đây là rủi ro mà không doanh nghiệp nào có thể lường vậy, khi đối mặt với biến cố lớn, đa phần các doanh nghiệp đều rơi vào trạng thái bị động và phải gánh chịu nhiều ảnh hưởng nghiêm trọng tại thời điểm dịch vừa diễn nhiên, khảo sát mới đây được Vietnam Report tiến hành cho thấy đến thời điểm hiện tại, các doanh nghiệp VNR500 top 500 doanh nghiệp có quy mô lớn nhất nước đã thực hiện một số chiến lược nhằm ứng phó trước những tác động tiêu cực trong dịch và phục hồi sau đó, trong 5 chiến lược ưu tiên của doanh nghiệp sau đại dịch, 90,4% quyết định tăng cường đào tạo nhân viên, tối đa hóa nguồn nhân lực; 86,5% doanh nghiệp lựa chọn giảm thiểu chi phí; 73,1% doanh nghiệp thực hiện tăng cường ưu thế cạnh tranh; 53,8% doanh nghiệp có dự định tăng cường nguồn vốn cho ứng dụng công nghệ và kĩ thuật số và có 42,3% doanh nghiệp sẽ đẩy mạnh trải nghiệm khách Report cho biết, bước qua khủng hoảng, các doanh nghiệp cũng dần trở nên thận trọng hơn trong các quyết định đầu tư kinh doanh. Có 58,1% doanh nghiệp được hỏi cho biết họ dự kiến sẽ mở rộng đầu tư đối với lĩnh vực kinh doanh chủ lực hiện tại, 37,2% dự kiến giảm mức đầu tư kinh doanh xuống và 4,7% doanh nghiệp giữ nguyên quy mô hiện hai năm tới, 48,8% doanh nghiệp tham gia khảo sát quyết định không mở rộng sang các dự án và lĩnh vực kinh doanh mới. Còn lại, trong số 51,2% doanh nghiệp có kế hoạch mở rộng đầu tư kinh doanh sang lĩnh vực mới, có 52,2% doanh nghiệp sẽ tiến hành tìm kiếm thị trường mới, 30,2% doanh nghiệp cho biết họ sẽ thực hiện các dự án liên doanh/liên kết và 11,6% doanh nghiệp sẽ thực hiện các dự án mua bán/sáp nhập M&A.Trước bối cảnh nền kinh tế thế giới còn nhiều biến động và tại một số quốc gia, tình hình dịch Covid-19 vẫn chưa được kiểm soát với số ca nhiễm vẫn ngày một tăng, các doanh nghiệp đa quốc gia đã và đang lên kế hoạch tìm kiếm “vùng đất mới” để đầu tư và phát những nỗ lực được ghi nhận từ kết quả tăng trưởng dương trong suốt thời gian qua, Việt Nam đang là điểm đến lý tưởng - nơi được dự báo sẽ thu hút lượng lớn dòng vốn FDI dịch chuyển từ Trung trước cơ hội này, đa phần các doanh nghiệp VNR500 trong khảo sát mới đây cho biết, họ đã có những chuẩn bị để tiếp cận dòng vốn FDI đó, top 3 chiến lược của doanh nghiệp trước cơ hội từ sự dịch chuyển dòng vốn FDI là đào tạo, nâng cao năng lực cán bộ quản lý, cải thiện năng suất và kỹ năng cho người lao động chiếm 81,4% phản hồi; tìm hiểu, nghiên cứu về tác động tiềm tàng của dòng dịch chuyển vốn FDI đối với hoạt động của doanh nghiệp mình 62,8% và lên phương án mở rộng thị trường, từng bước tham gia chuỗi giá trị toàn cầu 55,8%.Báo cáo này của Vietnam Report cũng cho hay, nếu như trong giai đoạn trước, khi phải đối mặt với khó khăn do dịch Covid-19 gây ra, các doanh nghiệp đều đã tiến hành điều chỉnh chiến lược ưu tiên nhằm củng cố nội lực như cắt giảm chi phí hay tìm cách tối đa hóa nguồn nhân lực thì hiện nay, vấn đề mà các doanh nghiệp quan tâm hàng đầu là duy trì dòng tiền ổn định và cân đối thu - đạt được điều này, không thể chỉ dựa vào nội lực của doanh nghiệp mà cần nhờ đến sự giúp đỡ từ phía Nhà nước và các ngân hàng thông qua các gói hỗ trợ, ưu đãi và cho vay. Thời gian qua, DNVVN là động lực phát triển cho nền kinh tế đất nước. Từ năm 2001 đến 6/2008 đã có DN, chủ yếu là các DNNVV đăng ký mới với số vốn đăng ký tỷ đồng, đưa tổng số các DN trong cả nước lên DN với tổng số vốn đăng ký trên tỷ đồng. Năm 2008 ước tính cứ 243 người có 1 DN đăng ký kinh doanh. Tuy nhiên, nếu so với mục tiêu phát triển KTXH và mục tiêu mà các nền kinh tế APEC phấn đấu đạt 1 DN trên 20 người dân và so với các quốc gia khác trong khu vực, tỷ lệ này vẫn còn rất thấp [47]. Sự phát triển của các DNVVN trong những năm qua có một số đặc điểm sau - Số lượng DN ngoài quốc doanh, mà phần lớn trong số đó là DNVVN tăng lên nhanh chóng, trong khi khu vực kinh tế tập thể và DN nhà nước đang được sắp xếp lại theo xu hướng giảm về số lượng. Loại hình doanh nghiệp tư nhân có tốc độ tăng nhanh nhất so với các loại hình khác trừ nhóm hộ kinh doanh cá thể. Theo thống kê, chỉ có khoảng gần 6% tổng số DN ngoài quốc doanh thành lập trước năm 1990, còn lại là ra đời trong giai đoạn từ năm 1991 đến nay [43-tr36]. - Khu vực DNVVN ngoài quốc doanh trong những năm qua có tốc độ tăng trưởng GDP bình quân khoảng 8,4%/năm 2006 - 9,3%/năm 2007, cao hơn mức trung bình của cả nước năm 2006 8,23; năm 2007 8,48 [41]. Điều đó phản ánh tiềm năng của khu vực DNVVN đang được huy động và phát huy. - Thực tế cho thấy, trong những năm qua các nhà đầu tư chủ yếu tập trung đầu tư vào các ngành ít vốn, thu hồi vốn nhanh như thương mại, dịch vụ nhà hàng, du lịch. Chỉ có khoảng hơn 30% vốn đầu tư được dành cho các ngành công nghiệp chế biến lương thực, thực phẩm và sản xuất hàng tiêu dùng. Tuy nhiên, trong những năm gần đây đã có sự chuyển dịch đầu tư vào lĩnh vực xây dựng cơ bản và công nghiệp chế biến. Các DNVVN hoạt động trong lĩnh vực xây dựng và công nghiệp chế biến ra đời và phát triển nhanh một phần không nhỏ do chính sách đầu tư mạnh của Nhà nước vào xây dựng cơ sở hạ tầng như trường học, văn phòng làm việc, các khu đô thị, đường giao thông, điện,… - Thủ tục thành lập DN đơn giản, qui mô vốn đăng ký của DN mới thành lập giảm đi, nhất là đối với DNTN và công ty TNHH. Do đó tỷ lệ DNVVN trong tổng số các DN ngoài quốc doanh mới thành lập ngày càng lớn. - Như đã đề cập ở trên, có thể khẳng định rằng DNVVN có vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế của bất kỳ một quốc gia nào. Do vậy, hỗ trợ DNVVN phát triển cũng được coi là một yêu cầu cấp thiết, vì điều này không chỉ có lợi cho DN, mà còn mang lại lợi ích cho toàn xã hội. - Quá trình tồn tại và phát triển của các DNVVN cho thấy loại hình DN này còn nhiều non kém, yếu ớt trong nền kinh tế thị trường cạnh tranh khốc liệt với những hạn chế như đã đề cập ở trên năng lực quản lý yếu, công nghệ lạc hậu, thiếu thông tin, vốn ít,... Vì vậy, để các DN này phát huy được vai trò của mình, nhất thiết phải có sự hỗ trợ của Nhà nước. Hơn nữa, có nhiều vấn đề mà DN không thể tự mình giải quyết được như tạo môi trường kinh doanh thuận lợi, xây dựng cơ sở hạ tầng, mở rộng thị trường quốc tế, đào tạo nguồn nhân lực,... Ngoài ra còn nhiều vấn đề khác nếu có sự hỗ trợ của Nhà nước sẽ làm giảm bớt khó khăn cho DN, tạo điều kiện cho DNVVN đứng vững trên thị trường và phát triển thuận lợi. Thực tiễn của nhiều nước trên thế giới cho thấy chính sách hỗ trợ của Nhà nước không chỉ có lợi cho DN, mà còn có lợi cho cả Nhà nước và xã hội. Lợi ích đó được thể hiện trên các mặt sau + Đầu tiên, sự hỗ trợ của Nhà nước đối với các DN là cách thức để nuôi dưỡng nguồn thu cho ngân sách Nhà nước. + Hỗ trợ DN là một cách đầu tư gián tiếp của Nhà nước, thay vì đầu tư trực tiếp để thành lập các DN nhà nước. Bằng những chính sách như hỗ trợ đầu tư, hỗ trợ nghiên cứu ứng dụng khoa học công nghệ, hỗ trợ đào tạo nhân lực,.. Nhà nước có thể định hướng phát triển các DNVVN, nhằm giải quyết những vấn đề xã hội như thất nghiệp, nâng cao đời sống cho người dân. Mặt khác góp phần tăng tính hiệu quả với nguồn vốn hạn hẹp của Nhà nước. Thay vì chỉ thành lập mới được một số ít DN nhà nước, thì với số vốn đó có thể hỗ trợ cho nhiều DN khởi nghiệp, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, trong đó có các DNVVN. + Thông qua chính sách hỗ trợ của Nhà nước, việc đầu tư phát triển sản xuất sẽ hiệu quả hơn, vì vừa huy động được tiềm năng sáng tạo trong dân, vừa thực hiện tốt chức năng quản lý của Nhà nước. Khóa luận tốt nghiệptranh gay gắt của người Pháp, Hoa kiều. Đây có thể coi là một thời điểmbước ngoặt trong truyền thống hoạt động kinh doanh của V i ệ t Nam, từ chỗnkhông được nhà nước phong kiến thừa nhận các loại hình doanh nghiệp đếchỗ được thừa nhận bởi sự cai trọ của ngày Cách mạng Tháng T á m thành công và chín năm kháng chiếnchống Pháp, mặc dù bọ chia thành vùng tạm chiế và vùng tự do, hoạt độngmkinh doanh về thực chất không có nhiều biến động m à còn được khuyếnkhích đối với người Việt Nam hơn giai đoạn trước. Nhà nước đã ban hànhsắc lệnh xoa bỏ m ọ i sự hạn chếcủa chế độ thực dân Pháp đối với các thủtục đăng ký kinh doanh của các doanh nghiệp Việt Nam, chính phủ cũngđồng ý để các công ty ngoại quốc được tiếp tục tiến hành cấc hoạt độngkinh doanh như trước. Đây là lần đáu tiên ở Việt Nam xuất hiện loại hìnhdoanh nghiệp có vốn đầu tư từ nước ngoài. Thòi kỳ này, các chủ doanhnghiệp cũng đóng góp nhiều công sức và tài sản cho cuộc kháng khác biệt lòn nhất trong thời kỳ này là các loại hình doanh nghiệp từchỗ chọu sự điều chỉnh của luật nước Pháp sang chọu sự điều chỉnh của luậtnước Việt Nam độc năm 1954, tình hình chính trọ và xã hội V i ệ t Nam có những biếnđộng lớn. Mặc dù đã giành được độc lập nhưng đất nước vẫn bọ chia cắtthành hai miền hoàn toàn khác nhau về chính trọ và kinh tế và do vậy nhữngloại hình doanh nghiệp ở hai miền có nhiều biến động miền Bắc, Chính phủ thực hiện chính sách xoa bỏ từng bước hìnhthức sở hữu tư nhân, thực hiện quốc hữu hoa hầu hế những doanh nghiệptcó nguồn gốc sở hữu tư nhân, tổng số khoảng 960 cơ sở. v ề thực chất làxoa bỏ hầu hế những loại hình doanh nghiệp, tức là các hình thức sở hữutkhác nhau đối với các cơ sở sản xuất, chỉ còn tồn tại những cơ sở sản xuất,doanh nghiệp thuộc sở hữu quốc doanh và tập viên Nguyễn Thị Lè Trang - Trung 2 - K40F - KTNT14 Khóa luận tốt nghiệpTại miền Nam, tình hình khác hẳn, chính quyền Sài G ò vẫn duy t ìnrnhững loại hình doanh nghiệp đa dạng, bao gồm cả sở hữu tư nhân, đầu tưtừ nước ngoài. Đ ể bảo đảm thuận l ợ i cho hoạt động sản xuất kinh doanh,chính quyền Nguy còn ban hành những chính sách bảo hộ cho doanhnghiệp trong nước, đánh thuế cao vào hàng hoa nhập khờu, ưu đãi thuế chonhập nguyên liệu, cấm Hoa kiều sản xuất kinh doanh 11 ngành k i n h tế, hỗtrợ tín dụng cho các doanh nghiệp. Thời kỳ này, doanh nghiệp tại miềnNam Việt Nam phát triển tương đối mạnh mẽ. Tính đến năm 1975, tại miềnNam có doanh nghiệp thuê từ 5 công nhân trở lên.[Ì, k h i thống nhất đất nước năm 1975, tại miền Nam, các loại hìnhdoanh nghiệp cũng có những biến động to lớn, giống như miền Bắc thời kỳtrước đó. Trong thời kỳ này Nhà nước đã quốc hữu hoa cơ sở sản xuấtkinh doanh của cả người Việt Nam và người nước ngoài. T ừ năm 1979 đếnnăm 1986, trên lãnh thổ nước Việt Nam thống nhất, các loại hình doanhnghiệp có nguồn gốc sở hữu ngoài nhà nước và tập thể không được phép tồntại, chỉ có các doanh nghiệp quốc doanh và các cơ sở sản xuất sở hữu tập thểvà các hợp tác xã. Tính đến năm 1986, cả nước có khoảng doanhnghiệp quốc doanh, một con số rất nhỏ so v ớ i dân số 65 triệu người.[2, tr. 67]. Thời kỳ từ 1987 đến nayThực hiện chính sách đổi mới, các loại hình doanh nghiệp lần lượtđược Chính phủ cho phép hoạt động. Ngày 29-12-1987, Luật dầu tư nướcngoài được ban hành, chính thức chấp nhận sự trở lại của đầu tư nước ngoàitại Việt Nam. N h ư vậy, sau hơn 10 năm, kể từ ngày đất nước thống nhất,đã xuất hiện các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, báo hiệu nhữngloại hình doanh nghiệp khác sẽ dược phép hình thành và phát viên Nguyễn Thị Lê Trang - Trung 2 - K40F - KTNT15 Khóa luận tốt nghiệpNghị quyết Đ ạ i h ộ i lần thứ V I của Đảng và Nghị quyết H ộ i nghị lầnthứ 2 Ban chấp hành Trung ương Đảng đã công nhận sự t ồ n tại của cácthành phần kinh tế cá thể và tư doanh trong cơ cấu nền k i n h tế quốc dân bêncạnh kinh tế nhà nước và kinh tế hợp tác xã. Các hoạt động kinh tế của cácthành phần k i n h tế này thực hiện dưới 3 hình thứci hộ cá thể,ri hộ tiểu công nghiệp vàiii xí nghiệp tư doanhTuy nhiên, các quy định về hình thức kinh doanh này không rõ ràng,cở thể, và rất chung chung. Luật pháp không xác định rõ chế độ tráchnhiệm, tổ chức quản lý, và bị hạn chế rất nhiều trong hoạt động kinh trong giai đoạn đầu của công cuộc đổi mới, ngày 21-112-1990,Quốc hội khoa V U I đã thông qua hai đạo luật quan trọng là Luật công ty vàLuật doanh nghiệp tư nhân. Hai đạo luật này đã tạo cơ sở chính trị pháp lýcho sự phát triển k h u vực kinh tế tư nhân ở nước ta, là một mốc quan trọngvà có ý nghĩa quyết định trong quá trình đổi m ớ i kinh tế, chuyển sang nềnkinh tế nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý củaNhà nứơc theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Luật doanh nghiệp tư nhân vàLuật công ty quy định 3 loại hình doanh nghiệp cho k h u vực k i n h tế tư nhânlà công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần và doanh nghiệp tư hơn 8 năm thi hành Luật công ty và Luật doanh nghiệp tư nhân,đã có hơn doanh nghiệp đăng ký thành lập v ớ i số vốn đăng kýkhoảng tỷ đồng. Trung bình m ỗ i n ă m có thêm doanh nghiệpmới đăng ký với tổng số vốn đăng ký trung bình n ă m khoảng tỷ ước tính sơ bộ, trong hơn 8 năm, doanh nghiệp tư nhân và công tyđã tạo ra hơn chỗ làm và đã đóng góp không nhỏ vào nguồn thuSinh viên Nguyễn Thị Lê Trang - Trung 2 - K40F - KTNT16 Khóa luận tốt nghiệpcủa ngân sách nhà nước. Công ty và doanh nghiệp tư nhân tạo ra khoảng8 % tổng sản phẩm xã hội.[3, suốt thời gian m ư ờ i mấy n ă m vừa qua, khung k h ổ pháp lý nóichung và khung k h ổ pháp lý về doanh nghiệp nóiriêngđã không ngừngđược hoàn thiện và phát triển thêm. Bộ luật dân sự, Bộ luật thương mại,Luật khuyến khích đẳu tư trong nước, Luật phá sản doanh nghiệp và cácluật khác về doanh nghiệp như Luật doanh nghiệp nhà nước, Luật hợp tácxã, đã được ban hành. Luật đẳu tư nước ngoài cũng được sửa đổi, bổsung theo hướng thu hẹp sự khác biệt, tiến t ớ i tiến trình hình thành mộtkhung khổ pháp lý bình đẳng đối với doanh nghiệp trong nước và doanhnghiệp có vốn đẳu tư nước ngoài. Điều này phù hợp với các cam kết quốc tếcủa Việt Nam k h i tham gia A S E A N AFTA, chương trình M A , AICO,APEC, ký kết hiệp định thương mại với Hoa K ỳ và đang cam kết để gianhập WTO...V ớ i tính thời sự và tâm quan trọng của công cuộc đổi m ớ i kinh tế m àĐảngvà N h à nước ta đề ra và quyết tâm thực hiện, thì những quy địnhtrong Luật công ty và Luật doanh nghiệp tư nhân ban hành trước đây khôngcòn thích hợp với n ộ i dung tương ứng của một số luật khác có liên quan,đặc biệt là Luật khuyến khích đẳu tư trong nước, Bộ luật dân sự, Bộ luậtthương mại... Điều đó đòi hỏi phải có sự sửa đổi về hai đạo luật này và đitới một dạo luật chung thống nhất điều chỉnh về các loại hình công ty vàdoanh nghiệp tư nhân theo hướng mở rộng thêm các loại hình doanh nghiệpkhác, đơn giản hoa thủ tục đăng ký kinh doanh, Điều này sẽ tăngcường tính linh hoạt cho các nhà đẳu tư trong việc lựa chọn hình thức và cơhội đẳu tư phù hợp nhất với khả năng của h ọ và tăng_cường vai trò quản lýnhà nước, giám sát bằng pháp luật đối với doanlị. nlMẹ^lHitc hiện cải cáchthủ tục hành viên Nguyễn Thị Lê Trang • Trung ĩ - K40F - KTNT17 Khóa luận tốt nghiệpNgày 12-6-1999, Quốc hội khoa X, kỳ họp thứ 5 đã thông qua toànvăn Luật doanh nghiệp vối 10 chương và 124 diều. Luật doanh nghiệp quyđịnh về việc thành lập, tổ chức quản lý và hoạt động của các loại hìnhdoanh nghiệp công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợpdanh và doanh nghiệp tư nhân và các doanh nghiệp được chuyển đổi thànhcông ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần tẫ doanh nghiệp nhà nước,doanh nghiệp của các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã 26-11-2003, Quốc hội khóa XI, kỳ họp thứ 4 dã thông qua toànvăn Luật doanh nghiệp nhà nước mới với 11 chương và 95 điểu thay thếLuật doanh nghiệp nhà nước năm 1995. Luật doanh nghiệp nhà nước 2003quy định về việc thành lập mới, tổ chức lại, giải thể, chuyển đổi sở hữu, tổchức quản lý và hoạt động của công ty nhà luật trên cùng với một số quy định về doanh nghiệp có vốn đầu tưnước ngoài và một số văn bản pháp quy nghị định, thông tư hướng dẫn thựchiện các quy định đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đã trởthành khung phấp lý cơ bản về pháp luật doanh nghiệp Việt Nam trong hệthống luật kinh tế nước ta điều chỉnh hoạt động của các doanh nghiệp hoạtđộng trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP VIỆTNAM XÉT THEO T H À N H PHẦN SỞ HỮU HIỆN NAY1. Doanh nghiệp nhà nướcDoanh nghiệp nhà nước gồm có các tổng công ty nhà nước được thànhlập và tổ chức hoạt động theo quyết định QĐ90/TTG ngày 7/3/94 vàQĐ91/TTG ngày 7/3/94, các doanh nghiệp hoạt động độc lập với mục đíchkinh doanh hoặc hoạt động cõng viên Nguyễn Thị Lê Trang - Trung 2 - K40F -KTNT Khóa luận tốt nghiệpTheo Niên giám thống kê của Tổng cục Thống kê, tính đến n ă m 2000,nước ta có khoảng doanh nghiệp nhà nước, chiếm khoảng 1 7 % tổngsố doanh nghiệp cả nước, số lượng giảm khoảng doanh nghiệp sovới dầu năm 1990, m à nguyên nhân chủ yếu là diễn ra do quá trình sápnhập. Theo nguyên tắc hiến định, doanh nghiệp nhà nước là dộng lực củanền kinh tế, góp phần để k h u vực kinh tế thực hiện được vai trò chủ đữotrong nền kinh tế quốc dân, là đòn bẩy thu hút và khuyến khích các thànhphần kinh tế khác liên kết với doanh nghiệp nhà nước phát huy sức mữnhtổng hợp của nền kinh tế. Các doanh nghiệp nước nắm g i ữ hầu hết cácnguồn lực cơ bản trong xã hội 86,6% tổng số vốn; 8 5 % tài sản cố định;1 0 0 % các mỏ và tài nguyên thiên nhiên, 8 0 % rừng... Tuy nhiên, khu vựckinh tế nhànước chỉ đóng góp 3 0 % vào GDP, 6 0 % số doanh nghiệp nhànước làm ăn thua lỗ. Tổng số nợ của các doanh nghiệp nhà nước bao gồmcả nợ nội bộ lên đến 135 tỷ USD vào cuối năm 1999 Số liệu của W o r l dBank.V ớ i mục tiêu thực hiện sắp xếp, đổi m ớ i doanh nghiệp nhà nước từnăm 1992, kết quả đữt được tính đến hết tháng 7/2004 cả nước đã cổ phầnhóa được doanh nghiệp nhà cổ phần, doanh nghiệp nhà nước được cơ cấu theo hướng tậptrung quy m ô lớn, hướng vào những ngành, lĩnh vực then chốt của nền kinhtế. Hiệu quả sau k h i sắp xếp lữi là đã tăng thêm tỷ số vốn huy động;quy m ô vốn của doanh nghiệp nhà nước tăng từ bình quân khoảng 24 tỷđồng năm 2001 lên 63,6 tỷ đồng. Tài chính doanh nghiệp dược lành mữnhhóa thông qua việc cơ cấu lữi các khoản nợ; xử lý tài sản là vật tư, hàng hóaứ đọng, tồn kho, m á y m ó c thiết bị cũ... ị nguồn www. mọi. doanh nghiệp nhà nước có đóng góp quan trọng vào nền kinh tếquốc dânSinh viên Nguyễn Thị Lê Trang - Trung 2 - K40F - KTNT19 Trước yêu cầu phát triển mới, hơn lúc nào hết, đội ngũ doanh nhân cần tiếp tục phát huy vai trò, khẳng định vị thế, góp phần hiện thực hóa khát vọng vì một Việt Nam hùng cường, thịnh vượng. Có nhiều đóng góp cho nền kinh tế Đội ngũ doanh nhân được xem là một trong những nhân tố có ý nghĩa quyết định nhằm thực hiện mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, tạo bước đột phá trong phát triển kinh tế-xã hội, đẩy lùi nguy cơ tụt hậu, nâng cao vị thế của nền kinh tế Việt Nam trên trường quốc tế. Với sự quan tâm đặc biệt của Đảng và Nhà nước, cùng nhiều chính sách hỗ trợ, tạo động lực đã được ban hành và thực thi, đến nay đội ngũ doanh nhân Việt Nam ngày càng lớn mạnh, có những đóng góp to lớn vào sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trên nhiều phương diện. Nhiều doanh nhân đã làm rạng rỡ trí tuệ, nghĩa khí, tài năng Việt Nam khi tên tuổi đã vượt ra ngoài đất nước, xếp hạng cùng những doanh nhân lớn trên thế giới. Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, đội ngũ doanh nhân, doanh nghiệp Việt Nam đã có sự phát triển không ngừng về số lượng. Tính đến nay, Việt Nam đang có khoảng gần 7 triệu doanh nhân, 860 nghìn doanh nghiệp. Khu vực này cũng đóng góp hơn 60% GDP, 70% nguồn thu ngân sách nhà nước, tạo ra việc làm cho 14,7 triệu lao động, chiếm gần 28% lực lượng lao động của toàn xã hội. Đồng chí Trần Tuấn Anh, Ủy viên Bộ Chính trị, Trưởng Ban Kinh tế Trung ương. Theo đồng chí Trần Tuấn Anh, Ủy viên Bộ Chính trị, Trưởng Ban Kinh tế Trung ương, Trưởng Ban Chỉ đạo tổng kết Nghị quyết số 09-NQ/TW về xây dựng và phát huy vai trò của đội ngũ doanh nhân Việt Nam trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, việc Bộ Chính trị khóa XI ban hành Nghị quyết số 09-NQ/TW cho thấy Đảng ta đã có sự nhìn nhận, đánh giá cao vị trí, vai trò của đội ngũ doanh nhân trong tình hình mới. Đến nay, rất nhiều doanh nghiệp, doanh nhân Việt Nam đã tạo đột phá trong quản trị doanh nghiệp, sản xuất, kinh doanh để hình thành những tập đoàn kinh tế, doanh nghiệp tư nhân lớn mạnh với những dự án đầy tham vọng, mang tầm vóc quốc tế, tiên phong trong một số ngành, lĩnh vực quan trọng như sản xuất ô-tô, hàng không, công nghệ thông tin,... Bên cạnh đó, đội ngũ doanh nhân còn tạo công ăn việc làm, cũng như an sinh xã hội, phục vụ công tác xóa đói, giảm nghèo và nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế trong bối cảnh nước ta đang hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, đồng chí Trần Tuấn Anh chỉ ra nhiều hạn chế của cộng đồng doanh nhân cần sớm khắc phục như năng lực cạnh tranh doanh nghiệp vẫn ở mức trung bình so thế giới, chưa đạt mục tiêu lọt vào nhóm 3, nhóm 4 của ASEAN,... Việc khơi dậy, phát huy đạo đức, văn hóa kinh doanh của doanh nhân Việt Nam chưa được quan tâm tương xứng, chưa thật sự trở thành nguồn lực phát triển bền vững cho đất nước. Do đó, đội ngũ doanh nhân cần tiếp tục nghiên cứu, có giải pháp mới để xây dựng và phát huy vai trò của mình gắn với thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế của đất nước. Cùng với đó là những yêu cầu, đòi hỏi ngày càng cao về nâng cao năng lực, phẩm chất, chất lượng nguồn nhân lực lãnh đạo, quản lý, quản trị doanh nghiệp; xây dựng văn hóa doanh nghiệp, đội ngũ doanh nhân đủ tài, đủ tâm và đủ tầm để đáp ứng được những thay đổi và thách thức ngày càng lớn của môi trường kinh doanh trong nước và quốc tế,... Chủ động, linh hoạt, sáng tạo Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp tỉnh Thanh Hóa Cao Tiến Đoan. Theo Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp tỉnh Thanh Hóa Cao Tiến Đoan, nhờ có những chủ trương, chính sách hỗ trợ đúng, trúng của Chính phủ và Quốc hội, sau hơn hai năm chịu ảnh hưởng tiêu cực từ dịch Covid-19, nhiều doanh nghiệp đã thích ứng và vực dậy, nắm bắt những cơ hội mới để phát triển. Từ đó, giúp năng lực của đội ngũ doanh nhân là chủ các doanh nghiệp cải thiện rõ rệt. Song cũng phải nghiêm túc nhìn nhận một thực tế số lượng và chất lượng đội ngũ doanh nhân chưa đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước, hiệu quả hoạt động chưa cao. Vì vậy, Chính phủ cần có thêm những cơ chế, chính sách nhằm tạo điều kiện thúc đẩy phát triển văn hóa doanh nghiệp để trở thành một lợi thế cạnh tranh trên sân chơi toàn cầu; đẩy mạnh chuyển đổi số, áp dụng công nghệ mới vào mô hình quản trị, phương thức điều hành; đầu tư, nghiên cứu hơn nữa trong sản xuất, kinh doanh để chủ động thích ứng với thị trường. Cùng với đó, trong thời gian tới mong Quốc hội tiếp tục tăng cường tính giám sát nhằm giúp cộng đồng doanh nghiệp có thêm niềm tin trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, tạo sự yên tâm, giảm sự rủi ro, tránh được những biến động bất ngờ trong thể chế, chính sách để bảo đảm môi trường đầu tư kinh doanh luôn an toàn, thuận lợi và ổn định cho tất cả các doanh nghiệp hoạt động. Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính đã nhiều lần khẳng định, Việt Nam đang xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, chủ động, tích cực hội nhập kinh tế sâu rộng, hiệu quả dựa trên ba trụ cột là con người, tài nguyên thiên nhiên và truyền thống lịch sử, văn hóa, do đó, cần phát huy tối đa năng lực, phẩm chất, trí tuệ của người Việt Nam trong mỗi doanh nhân; xây dựng văn hóa lành mạnh, văn minh, chuyên nghiệp, bình đẳng trong doanh nhân, đặt lợi ích của dân tộc, đất nước lên trên hết; bảo đảm hài hòa lợi ích Nhà nước, người dân và doanh nghiệp. Chiến lược phát triển kinh tế-xã hội giai đoạn năm 2021-2030 trong văn kiện Đại hội Đảng lần thứ XIII đã đề ra nhiệm vụ, phải phát triển mạnh khu vực kinh tế tư nhân Việt Nam cả về số lượng và chất lượng; khuyến khích hình thành, phát triển những tập đoàn kinh tế tư nhân lớn, tiềm lực mạnh, có khả năng cạnh tranh khu vực, quốc tế; phấn đấu đến năm 2030, có ít nhất hai triệu doanh nghiệp với tỷ trọng đóng góp của khu vực kinh tế tư nhân vào GDP đạt từ 60-65%. Điều này thể hiện khát vọng của dân tộc nhưng cũng đặt ra rất nhiều những áp lực, thách thức cho cả hệ thống chính trị. Chủ tịch VCCI Phạm Tấn Công. Để hiện thực khát vọng này, Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam Phạm Tấn Công cho rằng, cộng đồng doanh nghiệp và đội ngũ doanh nhân cần chủ động trau dồi thêm kiến thức pháp luật kinh doanh, nâng cao trình độ, kinh nghiệm trong quản lý, tính chuyên nghiệp; linh hoạt, sáng tạo hơn nữa trong cạnh tranh và hội nhập; từng bước xây dựng văn hóa liêm chính, đạo đức trong kinh doanh, cũng như tạo thêm sự liên kết phát triển chặt chẽ giữa các doanh nghiệp Việt Nam. Bên cạnh sự nỗ lực từ cộng đồng doanh nghiệp, Đảng, Nhà nước cần tiếp tục xây dựng, hoàn thiện hệ thống chính sách pháp luật, tạo lập môi trường đầu tư kinh doanh theo hướng bảo vệ, khuyến khích doanh nghiệp, doanh nhân làm ăn chân chính, đổi mới sáng tạo; ngăn ngừa doanh nghiệp, doanh nhân làm ăn phi pháp; thường xuyên lắng nghe và giải quyết kịp thời tâm tư nguyện vọng của doanh nhân, tạo điều kiện thuận lợi, tháo gỡ khó khăn trong hoạt động sản xuất, kinh doanh. Từ đó, khơi dậy, khuyến khích, cổ vũ mạnh mẽ tinh thần kinh doanh, khát vọng làm giàu chân chính trong xã hội. Tại Việt Nam, các doanh nghiệp vừa và nhỏ DNVVN chiếm 97% tổng số doanh nghiệp đang hoạt động tại Việt Nam và tốc độ tăng trưởng của các DNVVN cũng cao hơn đáng kể so với các doanh nghiệp lớn và vừa. Các DNVVN chiếm phần lớn trong lĩnh vực dịch vụ hay FnB thực phẩm và đồ uống, những lĩnh vực dễ bị tổn thương khi nền kinh tế gặp biến động. Hệ quả rõ ràng mà chúng ta có thể thấy là khi đại dịch COVID-19 bùng phát, đây là những ngành nghề bị ảnh hưởng nặng nề nhất và chuyển đổi kỹ thuật số trên diện rộng đã trở thành điều bắt buộc đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Tiềm năng phát triển to lớn Trong bối cảnh chưa từng có tiền lệ như hiện nay, nền tảng thương mại điện tử B2B toàn cầu của Tập đoàn Alibaba Trung Quốc đã đánh dấu một năm hoạt động đầy năng động tại Việt Nam, với hàng loạt sáng kiến nhằm đẩy nhanh chuyển đổi số, hỗ trợ các DNVVN Việt Nam vượt qua thách thức, phát triển và vươn ra toàn cầu ngay cả trong thời kỳ đại dịch. Ngoài ra, với 3 Hiệp định Thương mại tự do FTA đã ký với Liên minh châu Âu EVFTA, khu vực ASEAN và 5 nước RCEP và Vương quốc Anh UKVFTA vào năm 2020, nhu cầu chuyển đổi số đối với các doanh nghiệp để xuất khẩu hàng hóa sang các thị trường lớn, tham gia vào chuỗi cung ứng toàn cầu và tận dụng công nghệ tiên tiến, trở nên quan trọng hơn bao giờ hết. Thông qua các doanh nghiệp Việt Nam sẽ được đào tạo về cách thiết lập và vận hành cửa hàng ảo, đăng sản phẩm, nắm rõ phương thức quảng cáo bằng từ khóa, quản lý lưu lượng truy cập và đơn hàng, xác định xu hướng của người tiêu dùng, xây dựng video giới thiệu sản phẩm và tổ chức các buổi phát trực tiếp livestream nhằm tiếp cận người mua toàn cầu bất chấp việc các buổi triển lãm thương mại truyền thống và các chuyến công tác đang bị gián đoạn. Các doanh nghiệp Việt Nam cần phát huy thế mạnh về năng lực sản xuất, sản phẩm chất lượng cao, giá cả cạnh tranh; để nắm bắt cơ hội tiếp cận người mua toàn cầu từ chuyển đổi kỹ thuật số. Nền tảng thương mại điện tử B2B giúp các doanh nghiệp tận dụng xu hướng tất yếu này và phát triển kinh doanh bền vững, dễ dàng và hiệu quả. Trong năm 2021, công ty sẽ tiếp tục làm việc với chính phủ, với các DNVVN tại địa phương để tìm kiếm cơ hội mới và tổ chức các sự kiện và hội thảo nhằm giúp các doanh nghiệp cập nhật những giải pháp và xu hướng toàn cầu mới nhất trong thương mại điện tử. Vươn ra thế giới một cách dễ dàng Từ sứ mệnh của Tập đoàn Alibaba “tạo điều kiện kinh doanh dễ dàng ở bất cứ đâu”, năm 2020 bắt đầu bằng hội thảo trực tuyến nhằm giới thiệu những cơ hội mà thương mại điện tử xuyên biên giới B2B mang lại trong bối cảnh COVID-19 ảnh hưởng đến tất cả các doanh nghiệp cũng như cách tận dụng các công cụ và giải pháp của nền tảng như triển lãm thương mại trực tuyến và phát trực tiếp livestream. Tiếp theo đó, sáng kiến mang tính bước ngoặt, đã được giới thiệu nhằm hỗ trợ các DNVVN Việt Nam trong ba nhiệm vụ chính - tham gia nhanh hơn vào nền tảng để thiết lập phạm vi tiếp cận toàn cầu, tận dụng các giải pháp giúp thúc đẩy tăng trưởng kinh doanh và các dịch vụ được thiết kế riêng để giúp các DNVVN phát triển khả năng thương mại trực tuyến. Cũng trong năm qua, công bố triển khai dự án 100 nhà xuất khẩu tài ba Việt Nam, một sáng kiến dài hạn nhằm tôn vinh những nhà bán hàng xuất sắc trong nước, đồng thời cung cấp cho các DNVVN Việt Nam các chương trình ưu đãi về đào tạo và tư vấn nhằm nâng cao năng lực bán hàng, khả năng tiếp thị, quảng bá sản phẩm cũng như khả năng hoạch định chiến lược kinh doanh hiệu quả. Năm 2020 cũng đánh dấu sự hợp tác của với Cục Xúc tiến Thương mại, Bộ Công Thương với mục tiêu nâng cao nhận thức về chuyển đổi số của DNVVN và thúc đẩy quá trình bằng cách nâng cao năng lực trực tuyến và kỹ năng vận hành thông qua các khóa đào tạo và sáng kiến được thiết kế riêng. Hai bên đã tổ chức loạt hội thảo dành cho các DNVVN tại 5 tỉnh thành là Hà Nội, Lào Cai, Đà Nẵng, Cần Thơ và Thành phố Hồ Chí Minh. Đây là những thành phố lớn, có nhiều khu công nghiệp quan trọng và nhiều công ty xuất khẩu tiềm năng, đã rất hào hứng và hăng hái tham gia học hỏi kinh nghiệm xuất khẩu trực tuyến toàn cầu. Tiếp tục nỗ lực để tiếp cận DNVVN Với mục tiêu cam kết hỗ trợ DNVVN Việt Nam trong 3 năm tới và đẩy mạnh chuyển đổi kỹ thuật số, vào năm 2021, sẽ tiếp tục làm việc với chính quyền địa phương, cung cấp các dịch vụ và giải pháp trực tuyến phù hợp và hiệu quả. Trong năm 2021, sẽ tiếp tục chuỗi hội thảo hợp tác với Cục Xúc tiến Thương mại, Bộ Công Thương, mở rộng sang nhiều loại hình sự kiện bao gồm hội thảo, sự kiện lớn và roadshow tại các khu công nghiệp. Trong tháng 1 và tháng 2, và Cục Xúc tiến Thương mại, Bộ Công Thương sẽ tiếp tục tổ chức 4 buổi hội thảo tại 4 tỉnh, thành phố công nghiệp quan trọng của Việt Nam là Vũng Tàu, Quảng Ninh, Quy Nhơn và Buôn Mê Thuột. Với mục tiêu gia tăng và đẩy nhanh chuyển đổi số trong lĩnh vực kinh doanh, chúng tôi hợp tác với một nền tảng thương mại điện tử toàn cầu đáng tin cậy để chia sẻ kinh nghiệm và các bài học thực tiễn của họ cũng như cách các doanh nghiệp có thể tận dụng chúng để tồn tại và phát triển. Thông qua quan hệ đối tác với chúng tôi cam kết cung cấp các hoạt động và chương trình đào tạo hiệu quả cho các doanh nghiệp Việt Nam, giúp họ vượt qua những thách thức hiện nay”, ông Hoàng Minh Chiến - Phó Cục Trưởng Cục Xúc tiến Thương mại - Bộ Công Thương cho biết. Với lợi thế và kiến thức chuyên môn của một nền tảng thương mại điện tử B2B hàng đầu, sẽ tiếp tục cung cấp các dịch vụ tư vấn, các lớp đào tạo và các công cụ thân thiện với người dùng để mang đến cho các DNVVN nhiều cơ hội trực tuyến hơn và hỗ trợ họ trong thời kỳ tình hình môi trường và kinh tế toàn cầu luôn thay đổi.

sự phát triển của doanh nghiệp việt nam