Ca dao về chữ tín; Ca dao về cuộc sống kinh nghiệm sống; Ca dao về đạo đức; Ca dao về đoàn kết tương trợ; Ca dao về lao động sản xuất; Ca dao về lịch sử; Ca dao về quan hệ xã hội – Đối nhân xử thế; Ca dao về thời tiết; Ca dao về tình bạn; Ca dao về tình cảm gia Mắc ca. F.Muell. Mắc ca hay mác ca là tên gọi từ cách phiên âm trong tiếng Việt của chi thực vật có danh pháp khoa học Macadamia, gồm nhiều cây thân gỗ có nguồn gốc từ châu Đại Dương (Úc), thuộc họ Proteaceae. [1] [2] Các loài trong chi này là bản địa của đông bắc New South Đôi ta lên thác xuống ghềnh, Em ra đứng mũi để anh chịu sào. Sông Bờ, sông Mã, sông Thao, Ba ngọn sông ấy đổ vào sông Gâm. Chẳng thanh cũng thể hoa mai, Chẳng lịch cũng thể con người Thượng Kinh. Tiếp theo 20 Câu Ca Dao Dân Ca Tục Ngữ Về Địa Phương, đọc nhiều hơn dành SET 8 DAO BERLINGER HAUS Gi.á chưa bao giờ tốt thế 1.400.000đ/set Bộ dao gồm 8 món: Dao đầu bếp - với lưỡi dao bản rộng, dễ dàng và nhanh chóng cắt, thái lát, băm nhỏ. Dao rau củ - dùng gọt vỏ, cắt, Tìm kiếm ca dao tục ngữ thời hiện đại phần 30 , ca dao tuc ngu thoi hien dai phan 30 tại 123doc - Thư viện trực tuyến hàng đầu Việt Nam Tìm kiếm ca dao tục ngữ thời hiện đại phần 3 , ca dao tuc ngu thoi hien dai phan 3 tại 123doc - Thư viện trực tuyến hàng đầu Việt Nam Một số câu ca dao tục ngữ về cây bưởi: Câu 1: Trèo lên cây bưởi hái hoa. Bước xuống vườn cà hái nụ tầm xuân. Nụ tầm xuân nở ra xanh ngắt. Em đã có chồng anh tiếc lắm thay. Bài ca dao nói về chuyện yêu đương của đôi trai gái được trổ tài qua các loại cây như cây Qua các bài ca dao đã học và những hiểu biết của em về ca dao, hãy làm sáng tỏ ý kiến trên 04/10/2022 by ScenicDeflation Đánh giá của bạn post Vay Tiền Nhanh Chỉ Cần Cmnd Nợ Xấu. Tổng hợp những câu ca dao tục ngữ về cây cối, câu dừa, cây tre, cây bưởi hay và hấp dẫn Các nội dung về đề tài tục ngữ về cây cối được quan tâm trên Wikivui Những câu ca dao tục ngữ về cây cối, cây dừa, cây tre, cây bưởi Các câu ca dao tục ngữ là những kinh nghiệm mà ông bà ta tóm gọn từ xa xưa rất có lợi và ý nghĩa. Các câu ca dao tục ngữ thường nói về ông bà cha mẹ, con cái, cuộc sống cũng như những điều rất ý nghĩa so với cuộc sống của tất cả chúng ta. Bên cạnh những câu ca dao tục ngữ về ông bà cha mẹ còn có những câu tục ngữ về thiên nhiên và con người. Những câu tục ngữ về thiên nhiên thường nhắc đến các hiện tượng thiên nhiên như mây, mưa, gió bão, ngoài các hiện tượng đó thì những câu ca dao tục ngữ còn nhắc đến cây cối như cây dừa, cây tre, cây bưởi,… những loại cây có ý nghĩa so với nhân dân ta, ý nghĩa về mặt kinh tế lẫn về mặt lịch sử, tất cả chúng ta cùng đi tìm hiểu về những câu ca dao tục ngữ về cây cối, câu dừa, cây tre, cây bưởi. Câu 1 Không chồng, son phấn qua loa, Có chồng, em trang điểm nước hoa dầu dừa Dừa là một loại cây rất thân thương và thân thuộc so với cuộc sống của con người. cây dừa được sử dụng hầu hết các phòng ban của cây như thân cây được dùng làm gỗ, lá cây dùng để lợp nhà, trái dừa dùng để uống nước,…. Tuy nhiên dừa còn dùng để làm nước hoa cho người phụ nữ xưa. Câu 2 Bến Tre dừa ngọt sông dài Nơi chợ Mỏ Cày có kẹo nổi danh. ở Việt Nam dừa được trồng nhiều nhất ở Bến Tre, ở đây có rất nhiều dừa và rất nổi tiếng về dừa. mỗi lần đến đây tất cả chúng ta sẽ thấy được rất nhiều sản phẩm được sử dụng làm nhiều trong cuộc sống. Từ Bến Tre có nhiều dừa làm ra kẹo nổi tiếng ở Mỏ Cày. Câu 3 Bến Tre dừa xanh bát ngát Đường đi Ba Vát gió mát tận xương. Bến Tre được biết tới với rất nhiều dừa, dừa xanh bát ngát khiến ai đi đến cũng thấy mát tận xương tận lòng. Tất cả chúng ta được biết tới rất nhiều loại dừa nhưng dừa rất nhiều ở Bến Tre rất nổi tiếng, tất cả chúng ta tự hào vì điều này. Câu 4 Thấy dừa thì nhớ Bến Tre. Thấy bông sen nhớ đồng quê Tháp Mười. Mỗi nơi đều có một đặc trưng, đặc sản của nó, như Bến Tre có dừa, Đồng Tháp có bông sen. Mỗi nơi có một đặc trưng, một đặc sản riêng, tất cả chúng ta cảm thấy tự hào về những điều giản djj này. Dưới đây tổng hợp những câu ca dao tục ngữ về cây dừa Mài dừa dưới ánh trăng vàng, Ép dầu mà chải tóc nàng tóc anh Hòa Quý với tổng Hòa Thinh Dừa khô thổ sản nổi danh Nam Kỳ Quê em ba dải cù lao Có dừa ăn trái có cau ăn trầu. Quýt đường, vú sữa ngổn ngang, Dừa xanh Sóc Sãi, tơ vàng Ba Tri Theo năm tháng, bên hàng dừa xanh, dưới mái lều tranh Đồng quê thảnh thơi yên tịnh Cây lành trái đơm, cảnh đẹp hoa thơm Hữu tình trăng sáng gió mang Sông quê bến đợi đò xưa Quê hương vẫn đẹp xứ dừa thơ mộng Phong cảnh đồng quê lòng tôi mến chuộng ơi miền quê ngoại. Ôi tuổi thơ, ta dầm mưa ta tắm. Ta lội tung tăng trên mặt nước mặt sông. Ta lặn xuống, nghe vang xa tiếng sấm, Nghe mưa rơi, tiếng ấm tiếng trong. Ôi đâu rồi những trò chơi tuổi trẻ, Những tàu chuối bẹ dừa, những mảnh chòi nhỏ xíu, Những vết chân thơ ấu buổi trước nhất, Mấy tấm mo cau là mấy chiếc thuyền. Dừa ơi dừa! Người bao nhiêu tuổi Mà lá tươi xanh mãi đến giờ Tôi nghe gió ngàn xưa đang gọi Xào xạc lá dừa hay tiếng gươm khua… Dừa Bến Tre ba đồng một trái, Chuối Bến Tre một nải đồng ba. Ai biểu anh đến rồi lại đi ra, Để em thương nhớ, em chờ em đợi, nước mắt sa vắn dài. Trồng dừa ra đọt chặt tàu Sợ em đổi dạ tham giàu bỏ anh. Em đi lên xuống cầu dừa, Lấy ai có chửa đổ thừa cho anh. Kìa vườn dừa cây cao cây thấp Gió quặt quà cành lá xác xơ Thương em anh vẫn đợi chờ. Ăn dừa ngồi gốc cây dừa, Cho em ngồi với, cho vừa một đôi. Trời mưa lộp bộp lá dừa Bợp anh ba bợp cho anh chừa đi đêm. Gió mang gió đẩy lá dừa, Muốn ai thì muốn nhưng chừa em ra. Dừa xanh trên bến Sông Cầu Dừa bao nhiêu trái, dạ em sầu từng ấy. Trăng lên khuất bóng cây dừa, Làm thân con gái phải chừa đi đêm. Muốn trong bậu uống nước dừa Muốn nên cơ nghiệp, bậu chừa lang vân. Dừa tơ bẹ dún tốt tàng, Giàu sang có chỗ, điếm đàng có nơi. Đất thiếu trồng dừa, Đất thừa trồng cau. Dừa giao lá, cá giao đuôi. Ôi thân dừa đã hai lần máu chảy, Biết bao đau thương biết mấy oán hờn. Ai xui thằng giặc đi càn, Vô sâu ong đốt, ra đàng gặp chông. Dừa bị thương dừa không cúi xuống Vẫn ngẩng lên ca hát giữa trời Nếu ngã xuống dừa ơi không uổng Dừa lại đứng lên thân dựng pháo đài. Xem thêm đề tài sáng tạo kinh nghiệm mầm non Những câu ca dao tục ngữ về cây tre Câu 1 Tre già khó uốn. Cây tục ngữ nói về cây tre khi già sẽ khó uốn, khi già sẽ khó khăn trong việc uốn nắn để thành vật giống. Cây tục ngữ mươn cây tre để nói về sự giáo dục con người, khi còn nhỏ không giáo dục lớn lên sẽ không giáo dục được. Câu 2 Tre già măng mọc. Tre là một loại cây rất nổi tiếng, rất có ý nghĩa trong lịch sử của dân tộc Việt Nam ta. Khi tre già thì sẽ có măng mọc lên, tre là loài cây không lúc nào tàn, không lúc nào bị chết. Câu 3 Đóng tre căng bạc giữa đồng Các anh pháo thủ xoay nòng súng lên Súng anh canh cả trời đêm Để cho trăng đẹp toả lên xóm làng. Dây là câu tục ngữ nói về cây tre, nhắc đến giá trị và ý nghĩa của cây tre. Ngày xưa cây tre rất có ý nghĩa trong các cuộc kháng chiến, những cuộc kháng chiến luôn có sự hiện diện của cây tre. Tổng hợp một số câu ca dao tục ngữ về cây tre Tre già là bà lim. Có tre mới cho vay hom tranh. Tre non dễ uốn. Tre già nhiều người chuộng, người già ai chuộng làm chi. Tre lướt cò đỗ. Chặt tre cài bẫy vót chông Tre bao nhiêu lá thương chồng từng ấy. Em về cắt rạ đánh tranh Chặt tre chẻ lạt cho anh lợp nhà Sớm khuya hoà thuận đôi ta Hơn ai gác tía lầu hoa một mình. Một cành tre, năm bảy cành tre Đẹp duyên thì lấy chớ nghe họ hàng. Làng tôi có luỹ tre xanh Có sông Tô Lịch uốn quanh xóm làng. Bên bờ vải, nhãn, hai hàng Dưới sông cá lội từng đàn tung tăng. Trăng lên tắm luỹ tre làng Trăng nhòm qua cửa, trăng tràn vô nôi Trăng thơm bên má em tôi Xanh hàng mi nhỏ, bé cười xinh xinh. Ru em, em ngủ cho lành Cho chị ra điểm tập tành kẻo khuya Ngủ ngon, ngoan nhé, em nghe ! Dù cho địch đến đồng quê quê mình. Đừng hòng phá luỹ tre xanh Cướp con chim nhỏ trên cành của em Súng trường tay chị ngày đêm Bắn cho chúng nó một phen tơi bời. Một số câu ca dao tục ngữ về cây bưởi Câu 1 Trèo lên cây bưởi hái hoa Bước xuống vườn cà hái nụ tầm xuân Nụ tầm xuân nở ra xanh ngắt Em đã có chồng anh tiếc lắm thay Bài ca dao nói về chuyện yêu đương của đôi trai gái được trổ tài qua các loại cây như cây bưởi, nụ tầm xuân,… Những hình ảnh ấy nói lên tính cảm yêu thương của người con trai so với người con gái mình yêu thương. Câu 2 Qua tỉ như chùm gởi đáp nhờ Gá vô nhánh bưởi nọ đặng nhờ hưởng hơi Câu ca dao trổ tài tình cảm của đôi trai gái, của nam nữ được trổ tài qua hình ảnh chum gởi và cây bưởi. hình ảnh chum gởi nhờ vào nhánh bưởi để hưởng hơi nhánh bưởi. Tổng hợp một số câu ca dao tục ngữ về cây bưởi Mưa tháng bảy gãy cành trám Nắng tháng tám rám cành bưởi Cái sáo mặc áo em tao Làm tổ cây cà Làm nhà cây chanh Đọc canh bờ giếng Mỏi miệng tiếng kèn Hỡi cô trồng sen! Cho anh hái lá Hỡi cô trồng bưởi! Cho anh hái hoa Cứ một cụm cà Là ba cụm lý Con nhà ông lý Mặc áo tía tô Tổng hợp một số câu ca dao tục ngữ về cây cối Ba năm mít mới đóng đài Hoa thơm nỏ rộ, hoa xoài nở đua Bông lài, bông lựu, bông ngâu Sao bằng hoa bưởi thơm lâu dịu dàng Cây bần kia hỡi cây bần Lá xanh bông trắng lại gần không thơm Hoa lài hoa lý hoa Ngâu Chẳng bằng hoa bưởi thơm lâu diệu dàng Một cành đào sớm nở hoa Muôn ngàn cây cỏ, theo đà nương thân. Ngó lên đám ngó xanh xanh Người mong hái nụ, người dành bẻ gương Tạnh trời mưa kéo về non Hẹn cùng cây cỏ chớ còn trông mưa Thiếu chi củi quế rừng ta Kiếm chi củi mục rừng xa đem về Tre già đan sọt, nứa tốt đan bồ Trồng Tùng tưới nước cho Tùng Em săm say trên đọt, dưới gốc sùng không hay Trồng cây cũng muốn cây xanh, Kết đôi hổng đặng để thành phu thê. Nghe vẻ nghe ve Nghe vè về rau Xấc láo hỗn hào Là rau nghề ngạnh Trong lòng không tránh Vốn thiệt tâm lang Đất rộng bò ngang Là rau muống biển Quan đòi thầy kiện Bình bát nấu canh Ăn hơi tanh tanh Là rau dấp cá Không ba có má Rau má có bờ Thò tay so đo Nó là rau nhớt Ăn cay như ớt Vốt thiệt rau răm Sống tới ngàn năm Là rau vạn thọ Tay hay xớ rớ Vốn thiệt rau co Làng bắt chẳng cho Chính là rau húng Lên chùa mà cúng Lại có hành hương Giục giã buông cương Là rau mã đề Thân em như quả mãng cầu Đơm lên quả tử hạc chầu lọng che Ai về Quảng Ngãi quê ta Mía ngon, đường ngọt, trắng ngà dễ ăn Mạch nha, đường phổi, đường phèn Kẹo gương thơm ngọt ăn quen lại ghiền. Trên đây là Ca dao, tục ngữ về cây cối, cây dừa, cây tre, cây bưởi, Ngoài ra còn rất nhiều các câu ca dao tục ngữ về cây khác các bạn các bạn có thể xem ở các bài liên quan của Xem thêm bài viết thuộc chuyên mục Cây Xanh Câu ca dao tục ngữ nói về trồng trọtNhững câu ca dao tục ngữ về văn hóa sản xuất nông nghiệp1. Ca dao, tục ngữ về kinh nghiệm trồng trọt chăn nuôi2. Ca dao tục ngữ về cây xanhLà một đất nước với nền nông nghiệp phát triển lâu đời, ông cha ta đã đúc kết ra rất nhiều kinh nghiệm về chăn nuôi trồng trọt để răn dạy các thế hệ sau. Trong bài viết này Hoatieu xin chia sẻ một số câu ca dao, tục ngữ về nông nghiệp hay và ý nghĩa, mời các bạn cùng tham dao tục ngữ về thầy côCa dao tục ngữ từ xưa đến nay luôn là những kinh nghiệm quý báu của những thế hệ đời trước truyền lại cho đời sau. Chúng ta có thể dựa vào những câu ca dao tục ngữ này để dự đoán trước được về mùa vụ, thời tiết, cây trồng...1. Ca dao, tục ngữ về kinh nghiệm trồng trọt chăn nuôi1. Lúa chiêm lấp ló đầu bờHễ nghe tiếng sấm phất cờ mà lênÝ nói vụ lúa chiêm là vụ lúa trong mùa hè thường khô hạn thiếu nước nên cây lúa chỉ cao tầm ngang bờ ruộng mà thôi. Nếu như có tiếng sấm nghĩa là có mua thì vụ lúa sẽ trổ bông, mùa màng bội thu Tháng chạp là tháng trồng khoaiTháng giêng trồng đậu tháng hai trồng càTháng ba cày vỡ ruộng raTháng tư làm mạ mưa sa đầy đồngCâu ca dao tục ngữ này chia sẻ về kinh nghiệm và thời gian trồng hòa màu trong năm phù hợp với từng giống cây để có một mùa màng bội thu hơn. Cụ thể tháng 12 sẽ trồng khoai, tháng giêng trồng đậu, tháng hai trồng cà, tháng ba thì cày ruộng không trồng trọt, tháng tư làm mạ để trồng Muốn ăn lúa chiêm xem trăng rằm tháng ăn lúa dé, xem trăng rằm tháng giêng. Muốn ăn lúa tháng mười, trông trăng mồng tám tháng tư4. Cấy lúa ruộng lạ, gieo mạ ruộng quenNghĩa là gieo mạ thì phải gieo ở ruộng chỉ dành cho việc gieo mạ để cây mạ được phát triển tốt, còn cấy lúa thì có thể cấy ruộng lạ. ruộng lạ là ruộng trồng hoa màu nhiều vụ như vụ trồng khoai, vụ trồng lúa,...5. Cấy tháng sáu máu rồng, cấy tháng chạp đạp không ra.Cấy lúa mùa tháng sáu, cấy lúa chiêm tháng chạp là hợp thời vụ.Chiêm ba vải, mùa phải thời.Lúa mùa phải cấy đúng ngày, đúng thời vụ; lúa chiêm có thể sớm muộn một chút cũng được.6. Trồng tre đất sỏi, trồng tỏi đất là cây tre có thể sống trên đất sỏi đá khô cằn, còn cây tỏi thì phải trồng trên đất màu mỡ mới cho nhiều Một cục đất ải bằng một bãi Đất thiếu trồng dừa, đất thừa trồng cau9. Đất màu trồng đậu trồng ngôĐất lầy cấy lúa, đất khô làm vườn”;10. Thiếu tháng hai mất cà,Thiếu tháng ba mất đỗ,Thiếu tháng tám mất hoa ngư,Thiếu tháng tư mất hoa cốc11. Tháng giêng trồng trúc, tháng lục trồng tiêu12. Tháng giêng rét đài, tháng hai rét lộc, tháng ba rét nàng Bân13. Tỏ trăng mười bốn được tằmTỏ trăng hôm rằm thì được lúa chiêm14. Tháng bảy mưa gãy cành tràmTháng tám nắng rám trái bưởi15. Trăng mờ tốt lúa nỏ. Trăng tỏ tốt lúa sâu2. Ca dao tục ngữ về cây xanh1. Hoa lài hoa lý hoa ngâuChẳng bằng hoa bưởi thơm lâu diệu dàngNgụ ý muốn hoa bưởi là loài hoa thơm lâu và mùi hương nhẹ nhàng so với hoa lài, hoa lý, ngoa Trong đầm gì đẹp bằng senLá xanh bông trắng lại chen nhị vàngBông sen là bông hoa có vẻ đẹp độc đáo, mọc lên từ đầm lầy nhưng lại có bông sen thơm ngát với lá xanh, bông hoa trắng, nhị hoa màu Dây ở trên mâyLà trái đậu rồngủ vợ đủ chồngLà trái đu đủCắt ra nhiều mủLà trái chuối chát4. Có sọc, có hoaúng là trái vảiẹp như con gáiTrái hồng, trái đàoMắt sáng như saoKhác nào trái nhãn5. Đầm sen, bãi sậy, rừng tràm,Kinh dài xé đất, cây xanh rợp Trời nắng như lửa đốtMà cây xanh vẫn cứ phơiLàm bóng râm che đấtLàm bóng râm che các bạn tham khảo thêm các thông tin hữu ích khác trên chuyên mục Tài liệu của Vè trái cây Nghe vẻ nghe vè Nghe vè trái cây Dây ở trên mây Là trái đậu rồng ủ vợ đủ chồng Là trái đu đủ Cắt ra nhiều mủ Là trái chuối chát Mình tựa gà ác Trái khóm, trái thơm. Cái đầu chôm bôm Là trái bắp nấu Hình thù xâu xấu Trái cà dái dê Ngứa mà gãi mê Là trái mắt mèo Khoanh tay lo nghèo Là trái bần ổi Sông sâu chẳng lội Là trái mãng cầu Bù cổ, bù đầu Trái dâu, trái cách Cái bụng óc ách Là trái dừa tươi Gai góc đầy người Là trái mít ướt Sanh ở dưới nước Trứng cá ngon ngon Ăn thấy giòn giòn Là ổi xá-lị U buồn, bi lụy Là trái sầu riêng Sánh với tay tiên Là trái phật thủ Tiền bạc đầy đủ Chính là trái sung Tóc mọc lung tung Là chôm chôm trốc Xù xì da cóc Là mãng cầu xiêm Nghe tên phát thèm Me chua, xoài tượng Ăn nhiều thì ớn Là lê-ki-ma Có sọc, có hoa úng là trái vải ẹp như con gái Trái hồng, trái đào Mắt sáng như sao Khác nào trái nhãn Hay ngồi hàng quán Trái cà, trái lê Làm dưa khỏi chê Cà non, cà pháo Chẳng biết gì ráo Trái bí không sai Gốc ở nước ngoài Trái nho, trái táo Nhai nghe rào rạo ậu phộng, hột điều ựng được thiệt nhiều Là trái bình bát Muốn ăn đập nát Trái lựu chớ chi Cho bú trẻ thơ Là trái vú sữa Còn nhiều nhiều nữa Ai biết xin mời Kể tiếp nghe chơi Cái vè cây trái. Cùng thể loại Vè cá biển Hai bên cô bác Lẳng lặng mà nghe Nghe tôi kể cái vè Ngư lương, tử hổ Lý sâm, lý chuối Dưới rạch, dưới ngòi Cá nục, cá úc Cá thơm, cá thác Hơi nào mà kể hết Cá nơi làng này Thần linh chiêm bái Vậy mới cất chùa chiền Mới đúc Phật, đúc chuông Cô bác xóm giềng Lẳng lặng mà nghe Cá nuôi thiên hạ Là con cá cơm, Không ăn bằng mồm Là con cá ngát Không ăn mà ú Là con cá voi, Hai mắt thòi lòi Là cá trao tráo … Vè hoa Hoa nhài thoang thoảng bay xa Mùi thơm khác hẳn, thật là có hương Hoa cúc không sợ thu sương Để màu ẩn dật, mùi hương đậm đà Hoa sen mùa hạ nở ra Ở bùn mà lại không pha sắc bùn Hoa mai chót vót đỉnh non Trắng như bông tuyết hãy còn kém xa Mẫu đơn phú quý gọi là Hải đường sắc đẹp nhưng mà không hương Hoa quỳ nhất ý hướng dương Hoa liễu trong trắng, trông thường như bông Phù dung mọc ở bên sông Hoa đào gặp được gió đông mới cười Vè ăn hàng Vai mang xấp vải trong mo Đi chưa tới chợ đã lo ăn hàng Bánh in cùng những bánh bàng Bánh bò bông, bánh ít trần, ngon thay. Mít nghệ múi bằng cổ tay Bánh đúc chấm mật, bánh gai, bánh bèo Muốn ăn đừng có lo nghèo Tiền tui trong túi đem theo đủ dùng, Ăn một bụng ba mươi đồng Mua mấy thứ để cho chồng tui đây Vừa mới tới vuông đất cày Ngồi dưới gốc cầy lật nón ra ăn Làm vầy dạ cũng băn khoăn Vì chưng lỗ miệng muốn ăn không chừng … Vè bần phú Thảo một bài bần phú, Luận đôi câu nhơn nghĩa tinh vi. Kẻ đắc thời đắc lễ đắc nghi Người thất thế, thất thi thất nghiệp. Cũng có kẻ cực già đời mãn kiếp, Cũng có người phong lưu tự bé chí già. Việc ấy nghĩ không ra, Chẳng biết tại căn hay là tại số? Cũng có kẻ ở phường, ở phố, Cũng có người sầu giả lâm bô. Đã khắp trong cửu quận mười đô, Vì hai chữ phú bần lợn lạo. … Vè đi ở Tóc quăn chải lược đồi mồi Chải đứng chải ngồi, quăn vẫn hoàn quăn Nên thì tớ ở tớ ăn Không nên tớ giã đầu quăn tớ về. Tháng năm công việc ê hề Thằng ở ra về, chủ phải cưỡi trâu. Giã ơn chúng bạn chăn trâu, Tớ về đồng bãi hái dâu, chăn tằm. Tớ ở chưa được nửa năm, Chủ nhà mắng tớ, tớ nằm không yên … Vè loài vật Ve vẻ vè ve Cái vè loài vật Trên lưng cõng gạch Là họ nhà cua Nghiến răng gọi mưa Đúng là cụ cóc Thích ngồi cắn chắt Chuột nhắt, chuột đàn Đan lưới dọc ngang Anh em nhà nhện Gọi kiểu tóc bện Vợ chồng nhà sam … Vè con cút Nghe vẻ nghe ve Nghe vè con cút Trâu ăn mấy chút Bắt mẹ tôi đền Nắm chóp tôi lên Đau đầu cha chả Chạy mời Trùm Xã, Lại có Trưởng Đông Trâu ăn ngoài đồng Bắt vô mà cột Mâm trầu cho tốt Hũ rượu cho ngon Phải trâu của con Thì con bắt lấy … Chỉ vì một chữ ăn Ăn lông ở lỗ, từ thuở tạo thiên Hôm sớm cửa thiền, ăn chay niệm Phật Cả đời chật vật, làm không đủ ăn Tánh hay hiểu lầm, làm sao ăn ở Biết ăn theo thuở, biết ở theo thời Tài sức thua người, thì bị ăn hiếp Đờn ca ăn nhịp, mới thật tài năng Người không chịu làm, hay đi ăn ké Cần phải tránh né, cái bọn ăn dơ Vừa vét vừa quơ, muốn ăn trọn gói Hễ ăn một đọi, thì nói một lời Ăn phải coi nồi, ngồi thời coi hướng … Vè bánh trái Lẳng lặng mà nghe Tôi nói cái vè Vè các thứ bánh Mấy tay phong tình huê nguyệt Thì sẵn có bánh trung thu Mấy ông thầy tu Bánh sen thơm ngát Ai mà hảo ngọt Thì có bánh cam Những kẻ nhát gan Này là bánh tét Còn như bánh ếch Để mấy ông câu Hủ lậu từ lâu Thì ưa bánh tổ … Vè chim chóc Thứ hay lớn tiếng Tu hú ác là Nhảy nhót lân la Chích chòe bìm bịp Tính hay ăn hiếp Chim cú, diều hâu Sang đứng lưng trâu Sáo hành, sáo nghệ … Có cùng từ khóa Anh muốn trông, anh lên Ba Dội anh trông Anh muốn trông, anh lên Ba Dội anh trông, Một Dội anh ngồi, hai Dội anh trông. Trống thu không ba hồi điểm chỉ, Anh ngồi anh nghĩ, thở ngắn, than dài. Trúc nhớ mai, thuyền quyên nhớ khách, Quan nhớ ngựa bạch, bóng lại nhớ câu Anh nhớ em đây biết bao giờ được, Đạo vợ chồng chẳng trước thời sau, Trăm năm xin chớ quên nhau. Thú vị tình thâm Thú vị tình thâm, Lấy phải con vợ đái dầm, thú vị tình khai Anh ơi gà đã gáy dồn Anh ơi gà đã gáy dồn, Dậy đi xúc ốc đồng Tròn, đồng Quang, Rổ sề, rổ sảo, rổ sàng Vợ bưng, chồng gánh kịp hàng chợ phiên Cơm này là nghĩa đá vàng Cơm này là nghĩa đá vàng Chồng em vẫn đợi mấy chàng bưng mâm. Cơm này nửa sống nửa khê Cơm này nửa sống nửa khê, Vợ đơm chồng nếm chẳng chê cơm này Trai không vợ như ngựa không cương Trai không vợ như ngựa không cương Trăm quan tiền nợ không bằng vợ có con riêng Trăm quan tiền nợ không bằng vợ có con riêng Ruộng giữa đồng, chồng giữa làng Ruộng giữa đồng, chồng giữa làng Dị bản Tậu ruộng giữa đồng, lấy chồng giữa làng Ruộng đầu chợ, vợ giữa làng Nhà khó cậy vợ hiền Nhà khó cậy vợ hiền Bài này có từ ngữ và/hoặc nội dung nhạy cảm. Hãy cân nhắc trước khi bấm xem. Chồng ướt dái vợ sái răng hàm Chồng ướt dái vợ sái răng hàm Đậu rồng Còn gọi là đậu khế, hay đậu xương rồng, hoặc đậu cánh, thuộc loại thân thảo leo, nếu được dựng giàn, đậu rồng có thể bò lan trên 3m. Đậu rồng sinh trưởng và phát triển chủ yếu ở những nước nhiệt đới và cận nhiệt đới, giàu dinh dưỡng lại rất dễ trồng. Đậu rồng Đu đủ Loại cây ăn quả rất thường gặp ở Việt Nam. Quả đu đủ có thể ăn xanh làm nộm, hầm, hoặc làm mắm hoặc ăn chín. Cây và quả đu đủ, từ quyển Medicinal-Plants 1887 của Koehler Chuối chát Chuối hột lúc còn non, thường được dùng trong các món trộn hoặc rau sống. Chuối chát Khóm Loại cây có họ hàng với dứa, ở mép lá có răng như gai nhọn, khi chín quả không có màu vàng như dứa. Ở một số vùng người ta cũng gọi chung khóm và dứa là một. Dứa Còn gọi là thơm hoặc gai, loại cây ăn quả có thân ngắn, lá dài, cứng, có gai ở mép và mọc thành cụm ở ngọn thân, quả có nhiều mắt, phía trên có một cụm lá. Cây dứa đang ra quả Cà dái dê Còn có tên là cà tím, quả mọng nhiều cùi thịt, chứa nhiều hạt nhỏ và mềm, được dùng để chế biến thức ăn trong nhiều nền ẩm thực Á, Âu. Tên cà tím và cà dái dê đều không thực chính xác vì có nhiều quả cà tím không mang màu tím, hay không có hình thù như dái dê. Cà tím Mắt mèo Còn gọi là mai dương, trinh nữ nâu, hay trinh nữ đầm lầy, thuộc họ Đậu, có họ hàng với cây trinh nữ. Trái mắt mèo nhìn giống trái me nhưng có nhiều lông gây ngứa, nếu dây vào mắt có thể gây mù. Trái mắt mèo Bần Còn gọi là cây thủy liễu, loài cây gặp nhiều ở các vùng ngập mặn Nam Bộ. Gỗ bần chủ yếu dùng làm chất đốt, còn trái bần có vị chua, chát với mùi thơm đặc trưng được chế biến thành nhiều món ăn đặc sản của Nam Bộ như mắm bần, lẩu cá nấu bần, mứt bần, kẹo bần... Cây và quả bần Mãng cầu Miền Bắc gọi là na, một loại cây ăn quả cho quả tròn có nhiều múi thực ra, mỗi múi là một quả khi chín có vị ngọt, mùi rất thơm. Lá, hạt và rễ mãng cầu cũng là những vị thuốc dân gian. Trái mãng cầu Phật thủ Một loại cây có quả thường được dùng để chưng trong dĩa trái cây cúng, đôi khi dùng thay cho chanh hoặc bưởi trong chế biến món ăn, làm mứt, trồng làm chậu kiểng, và làm thuốc Đông y. Phật thủ có nghĩa là bàn tay Phật. Quả phật thủ được cho là mang lại may mắn và tuổi thọ. Trái phật thủ Trái sung Trái của cây sung - một loại cây thân gỗ mọc dại - có thể ăn được. Người ta hay muối sung như muối dưa, để ăn trực tiếp hay kho với thịt, cá. Trong mâm ngũ quả ngày Tết nhiều nơi người ta xếp chùm quả sung cùng các loài trái cây khác để chưng trên bàn thờ với mục đích cầu mong sự sung túc, sung sướng cho gia đình trong năm mới. Trái sung Chôm chôm tróc Cũng phát âm là chôm chôm trốc, một loại chôm chôm trồng phổ biến ở Bến Tre, ồng Nai, Vĩnh Long, có đặc điểm là cùi không dính hạt nên rất được ưa chuộng. Mãng cầu xiêm Còn gọi là mãng cầu gai, hay na gai, na xiêm, được trồng nhiều ở miền Nam, cho quả lớn hơn mãng cầu ta nhiều. Có tên là mãng cầu xiêm vì vào loại cây này được nhập vào nước ta qua trung gian là nước Xiêm La tên cũ của Thái Lan. Vỏ ngoài nhẵn có những cái gai nhỏ, mềm, nên còn có tên là mãng cầu gai. Trái mãng cầu xiêm Xoài tượng Một loại xoài vỏ xanh, thịt nhiều, giòn, vị chua thanh. Loại xoài này được gọi là "xoài tượng" vì có kích cỡ lớn tượng từ Hán Việt nghĩa là voi. Ở nước ta, xoài tượng ở Đại An, tỉnh Bình Định là nổi tiếng ngon nhất nước. Trái xoài tượng Lê ki ma Còn gọi là trái trứng gà, một loại trái cây khi chín thịt có màu sắc và hương vị giống lòng đỏ trứng gà luộc chín. Lê ki ma là tên phiên âm từ tiếng Pháp pouteria lucuma cho loại trái này. Trái lê ki ma Chơi chữ, ý chỉ "cà" trong "la cà." Ý chỉ chữ "lê" trong "lê la." Điều Cũng gọi là đào lộn hột, một loại cây công nghiệp dài ngày. Quả thật ra là cuống phình to ra vị ngọt, nhiều nhựa, ăn được. Hạt thật ra là quả hình thận, chứa dầu, rang ăn giòn và bùi. Quả đào lộn hột Bình bát Một loại cây cùng họ với mãng cầu na, thường mọc ven bờ kênh, rạch có nước phèn, nước lợ ở Nam Bộ, quả ăn được. Bình bát dầm đường là món ăn vặt phổ biến ở trẻ em miền quê Nam Bộ, và còn được dùng làm thuốc. Tên gọi bình bát có nguồn gốc từ tiếng Thái-Khmer mean bat. Trái bình bát Vú sữa Loại cây trồng lớn nhanh, thân dẻo, tán rộng. Trái vú sữa to khoảng một nắm tay, da màu xanh, khi chín chuyển sang màu hồng nhạt, tía hoặc nâu ánh lục, vỏ nhiều mủ. Vú sữa hiện có rất nhiều giống như vú sữa Lò Rèn, vú sữa nâu tím, vú sữa vàng. Trong đó, giống vú sữa Lò Rèn được trồng nhiều nhất vì có vỏ mỏng, sáng bóng rất đẹp, thịt trái nhiều, hương vị thơm ngọt. Cây vú sữa được trồng nhiều ở miền Nam nước ta, nhất là ở các tỉnh Tiền Giang, Đồng Tháp, Bến Tre, Cần Thơ, Cà Mau và một số tỉnh khác ở miền Trung và miền Bắc. Theo Tổ chức Kỷ lục Việt Nam năm 2013, Việt Nam là nước duy nhất trên thế giới xuất khẩu trái vú sữa. Trái vú sữa Ngư lương Chỗ đắp bờ để nuôi cá từ Hán Việt. Tử hổ Chú thích này đang để ngỏ. Nếu bạn có thông tin về Tử hổ, hãy đóng góp cho chúng tôi. Cá nục Một loại cá biển, có rất nhiều ở các vùng biển miền Trung. Cá nục được dùng làm nguyên liệu chính cho nhiều món ăn ngon như cá nục sốt cà, cá nục kho, cá nục hấp cuốn bánh tráng... Cá nục Cá úc Một loài cá da trơn, chủ yếu sống ngoài biển, một số sống trong môi trường nước lợ hay ngọt, thường thấy ở khu vực ôn đới ấm và nhiệt đới. Cá úc được chế biến thành nhiều món đặc sản Nam Bộ. Cá úc Cá thơm Một loại cá nước ngọt có nhiều ở đồng bằng sông Cửu Long. Cá thác lác Cũng gọi là cá thát lát hoặc cá phác lác, một loại cá nước ngọt rất thường gặp ở Trung và Nam Bộ, đặc biệt là Tây Nam Bộ. Cá thường được đánh bắt để làm chả cá thác lác - một đặc sản nổi tiếng - và các món ngon khác như lẩu cá, muối sả ớt, canh... Cá thác lác Thiên hạ Toàn bộ mọi vật, mọi người. Đây là một khái niệm có gốc từ Trung Quốc thiên 天 trời hạ 下 ở dưới, nghĩa đen là "dưới gầm trời". "Nào ta biết đâu một người như thầy quản đây mà lại có những sở thích cao quý như vậy. Thiếu chút nữa, ta phụ mất một tấm lòng trong thiên hạ." Chữ người tử tù - Nguyễn Tuân Cá cơm Cũng gọi là cá duội ruội hay cá chi, một loại cá biển phổ biến ở Việt Nam, có thể chế biến thành các món ăn, phơi làm khô cá, hoặc làm nước mắm. Cá cơm Cá ngát Một loại cá sống ở biển và những vùng nước lợ, có da trơn, thân hình giống như con cá trê, đầu to có râu và hai chiếc ngạnh sắc nhọn hai bên, thân dài đuôi dẹt. Cá ngát khi đã trưởng thành thường to bằng cán dao đến cổ tay người lớn. Ngư dân đánh bắt cá ngát bằng cách giăng lưới hoặc câu nhưng hiệu quả nhất là giăng lưới ở những luồng nước đục, chảy nhẹ vì chỗ này thường có nhiều cá. Cá ngát có thể chế biến thành nhiều loại thức ăn, nhưng nổi tiếng nhất có lẽ vẫn là món canh chua cá ngát. Canh chua cá ngát Cá bã trầu Một loại cá biển thân dẹp, vẩy có màu hồng nhạt, mắt to. Cá cho thịt mềm, rất ngọt, được chế biến nhiều món ngon như nướng, chiên, nấu canh chua... Tùy vùng miền mà loại cá này có những cái tên khác nhau như cá thóc, cá mắt kiếng, cá trao tráo hai tên sau có lẽ là dựa vào đặc điểm của mắt cá. Cá bã trầu Nhài Còn gọi là lài, loại cây nhỏ có hoa màu trắng rất thơm. Nhân dân ta thường dùng hoa lài để ướp trà. Bông hoa lài nhài Mẫu đơn Một loại cây sống lâu năm, cho hoa rất to, đường kính đạt tới 15-20 cm, màu đỏ, tím hoặc trắng, mùi thơm gần giống mùi thơm của hoa hồng, do vậy hay được trồng làm cảnh. Theo y học cổ truyền, bộ phận dùng làm thuốc là vỏ rễ phơi hay sấy khô, gọi là mẫu đơn bì. Mẫu đơn còn được gọi là hoa phú quý, hoa vương, thiên hương quốc sắc... Hoa mẫu đơn Hải đường Loài cây nhỡ, sống nhiều năm, họ Chè. Lá dài, dày, mặt trên bóng, mép có nhiều răng cưa. Hoa mọc từ 1 đến 3 đóa ở gần ngọn cây, ngọn cành; hoa có cuống dài, tràng hoa đỏ tía, nhiều nhị đực. Hoa nở vào dịp Tết Âm lịch, đẹp nhưng không thơm. Hoa hải đường Dã quỳ Còn có tên là cúc quỳ, sơn quỳ hoặc hướng dương dại, một loại cây cho hoa màu vàng mọc nhiều ở các khu vực cận nhiệt đới và nhiệt đới. Ở nước ta, dã quỳ được người Pháp đưa vào các đồn điền ở Lâm Đồng, sau dần mọc hoang khắp các tỉnh Tây Nguyên. Hoa quỳ Liễu Một loại cây thân nhỏ, lá rủ. Liễu xuất hiện rất nhiều trong thơ ca Á Đông, và thường tượng trưng cho người con gái chân yếu tay mềm. Liễu rủ bên hồ Gươm Phù dung Còn gọi là mộc phù dung, địa phù dung, mộc liên, loại cây thân nhỡ có hoa, lá có năm cánh, hoa lớn, có hai loại là hoa đơn và hoa kép, hoa nở xòe to bằng cái bát, chất cánh xốp, trông như hoa giấy. Hoa thay đổi màu sắc từ sáng đến chiều sáng trắng, trưa hồng, chiều đỏ. Hoa phù dung Câu này có lẽ lấy ý từ hai câu thơ của Thôi Hộ thời Đường Nhân diện bất tri hà xứ khứ, Đào hoa y cựu tiếu đông phong Dịch Mặt người giờ ở nơi nao? Hoa đào vẫn đó cười chào gió đông. Mo Phần vỏ ngoài của hoa dừa hay hoa cau. Khi hoa còn non chưa nở, mo màu xanh, hai cánh dạng thuyền úp lại che chở cho hoa bên trong. Mo tự tách ra khi hoa nở và khô dần đi khi cây đậu quả. Mo cau, mo dừa già sẽ tự rụng xuống hoặc được người trồng giật xuống khi thu hái quả. Mo cau mềm mại, dẻo dai, được dân ta sử dụng để gói giò chả và nhất là gói cơm nắm mang theo khi làm đồng làm rẫy. Cơm nắm mo cau là một hình ảnh quen thuộc và thân thương với người nông dân nước ta. Mo cau Cơm nắm gói trong mo cau. Bánh in Một loại bánh có xuất xứ từ Huế, được làm từ bột năng, bột nếp, đậu xanh, đường, các nguyên liệu khác và được ép, đức thành khuôn mặt đáy của bánh thường khắc các hình chữ Phúc, Lộc, Thọ hoặc các hình trang trí khác và gói trong giấy bóng kính ngũ sắc. Đây là loại bánh để dùng trong ngày Tết, phục vụ việc thờ cúng và đãi khách. Bánh in Bánh bàng Một loại bánh làm từ bột mì, đường, và trứng, được nướng xốp, mặt vàng, gần giống bánh ga-tô, có hình dáng giống quả bàng, Bánh bò Một loại bánh làm bằng bột gạo, nước, đường và men, một số nơi còn cho thêm dừa nạo. Có một số loại bánh bò khác nhau tùy vùng miền, ví dụ Sóc Trăng có bánh bò bông, Châu Đốc có bánh bò thốt nốt... Bánh bò Bánh ít Loại bánh dẻo làm bằng bột nếp, có mặt ở nhiều địa phương, có nơi gọi là bánh ếch hay bánh ết. Tùy theo từng vùng mà bánh ít có hình dạng và mùi vị khác nhau hình vuông, hình tháp, hình trụ dài, gói lá chuối, lá dứa, không nhân, nhân mặn, nhân ngọt... Bánh ít là món bánh không thể thiếu trong các dịp lễ Tết, giỗ cúng. Bánh ít lá gai Bánh ít trần Mít nghệ Một loại mít có múi to, dày, ráo, độ ngọt vừa phải, màu vàng đậm, có thể ăn tươi hoặc làm mít sấy. Mít nghệ Bánh đúc Bánh nấu bằng bột gạo tẻ hoặc bột ngô quấy với nước vôi trong, khi chín đổ ra cho đông thành tảng, thường được ăn kèm với mắm tôm. Bánh đúc là món quà quen thuộc của làng quê. Bánh đúc Hà Nội Bánh ít lá gai Gọi tắt là bánh gai, một loại bánh ít đặc sản của miền Trung. Bánh làm từ lá gai quết nhuyễn với bột dẻo, tạo cho lớp áo ngoài của bánh có màu xanh đen đặc trưng. Nhưn nhân bánh thường là đậu xanh, dừa, đường, thêm chút quế và vani để tạo mùi thơm; đôi khi người ta cũng làm nhân bánh từ tôm xào với thịt, tạo ra món bánh ít mặn. Lá gai Bánh ít lá gai Bánh bèo Một món bánh rất phổ biến ở miền Trung và miền Nam. Bánh làm từ bột gạo, có nhân phía trên mặt bánh làm bằng tôm xay nhuyễn. Nước chấm bánh bèo làm từ nước mắm, và thường đổ trực tiếp vào bánh chứ không cần chấm. Thành phần phụ của bánh bèo thường là mỡ hành, đậu phộng rang giã nhỏ. Tuỳ theo địa phương, có những cách thêm bớt khác nhau cho món bánh này, ví dụ ở Sài Gòn thường bỏ đậu xanh, đồ chua, lại cho ăn kèm bánh đúc, bánh ít, bánh bột lọc... Bánh bèo Kơ nia Người Kinh gọi là cây cầy hoặc cây cốc, một loại cây gỗ cứng mọc nhiều ở các tỉnh Tây Nguyên, ngoài ra còn phân bố từ Quảng Nam đến một số tỉnh Nam Bộ cũng như các đảo Phú Quốc, Côn Đảo. Cây kơ nia có một ý nghĩa tâm linh rất lớn đối với đồng bào các dân tộc thiểu số. Cây kơ nia Nghĩa nhân Cũng viết nhân nghĩa, nghĩa là "lòng yêu thương người nhân và biết làm điều phải nghĩa." Hiểu rộng là đạo nghĩa sống ở đời. Đắc thời đắc lễ đắc nghi Được thời thì được lễ nghi chữ Hán. Thất thế Mất thế lực, mất chỗ tựa. Từ chữ Hán thất 失 mất và thế 勢 thế lực. Thất nghiệp Không có nghề nghiệp, việc làm. Mãn kiếp Suốt đời, cho đến tận lúc chết thường nói về việc không hay. Phong lưu Ngọn gió bay phong, dòng nước chảy lưu. Từ này vốn nghĩa là phẩm cách, tinh thần riêng của mỗi người, hiểu rộng ra là sung sướng, vui với cảnh, không phải chịu buồn khổ. Cõi trần thế nhân sinh là khách cả Nợ phong lưu kẻ giả có người vay Nợ phong lưu - Nguyễn Công Trứ Chí Đến, kéo dài cho đến từ Hán Việt. Căn Gốc rễ chữ Hán. Khái niệm căn thường được gặp trong lí thuyết Phật giáo, chỉ những điều căn bản, gốc rễ của nhận thức, sự việc. Thiện căn ở tại lòng ta Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài Truyện Kiều Số kiếp Vận mệnh của một đời người. Lâm bô Có nguồn gốc từ danh từ limbo trong tiếng Bồ Đào Nha, có nghĩa là một nơi giam cầm các linh hồn hay đang ở vào một tình trạng nào đó dang dở. Cửu Số chín, thứ chín từ Hán Việt Lợn lạo Có thể là cách đọc trại đi của từ lộn lạo. Đồi mồi Một loài rùa biển, mai có vân đẹp nên thường bị đánh bắt để làm đồ mĩ nghệ lược, vòng tay, vòng đeo cổ.... Những đốm nám trên da hoặc trái cây cũng gọi là vết đồi mồi. Con đồi mồi Giã Như từ giã. Chào để rời đi xa. Giã ơn Cảm tạ ơn. Kíp truyền thu lễ, trao lời giã ơn Nhị Độ Mai Dâu tằm Loại cây thường được trồng hai bên bờ sông, chủ yếu để lấy lá cho tằm ăn. Lá và rễ dâu cũng là vị thuốc đông y. Quả dâu tằm chín cũng có thể dùng để ăn hoặc ngâm rượu, gọi là rượu dâu tằm. Ở nước ta, dâu có nhiều giống dâu bầu, dâu da, dâu cỏ, dâu tam bội... Lá và quả dâu tằm Tằm Còn gọi là tằm tơ, ấu trùng của loài bướm tằm. Tằm ăn lá dâu tằm và nhả tơ thành kén. Tằm đã sẵn sàng nhả tơ được gọi là tằm chín, có màu vàng óng hoặc đỏ nâu bóng, trong suốt. Tơ tằm dùng để dệt lụa và có giá trị kinh tế cao. Tằm đang ăn lá dâu Kén tằm Cắn chắt Cắn ăn hạt lúa cho vui miệng hoặc đỡ đói. Về ngóng cô nàng xưa cắn chắt cười lia dăm hạt cốm giờ đã nằm sương giậu lả tầm xuân Người không về - Hoàng Cầm Sam Một sinh vật biển thuộc bộ giáp xác. Sam thường đi thành cặp ở dưới nước, lúc nào con sam đực cũng ôm lấy con sam cái, gọi là đôi sam. Dân gian ta có thành ngữ "thương như sam" hoặc "dính như sam." Đôi sam Cha chả Thán từ dùng để biểu lộ sự ngạc nhiên phương ngữ Trung và Nam Bộ. Trùm Người đứng đầu một phường hội thời xưa. Nghệ sĩ Minh Nhí trong vai trùm Sò áo the xanh trong vở cải lương Ngao Sò Ốc Hến Có bản chép Tôi lại cửa công. Thuở tạo thiên Lúc mới lập ra trời đất. Đọi Cái chén, cái bát phương ngữ một số vùng ở Bắc Trung Bộ. Thời Thì. Xưa vì kị húy vua Tự Đức Nguyễn Phúc Thì nên chữ này được đọc chạnh đi thành "thời." Nguyệt hoa Cũng viết là hoa nguyệt trăng hoa, chỉ chuyện trai gái yêu đương. Từ này có gốc từ nguyệt hạ hoa tiền dưới trăng, trước hoa, những cảnh nên thơ mà trai gái hẹn hò để tình tự với nhau, nay thường dùng với nghĩa chê bai. Cởi tình ra đếm, ra đong Đâu lời chân thật, đâu vòng trăng hoa? Tơ xuân - Huy Trụ Bánh hạt sen Gọi tắt là bánh sen, một số nơi gọi là kẹo hạt sen, loại bánh ngọt làm bằng bột vo nhỏ như hạt sen, ngoài bọc bằng giấy bóng kính nhiều màu. Bánh thường gặp trong dịp Tết nguyên đán. Bánh hạt sen Bánh cam Một loại bánh hình tròn nhìn giống quả cam, làm bằng bột nếp, nhân đậu xanh, bên ngoài phủ nhiều mè vừng, được rán trong dầu, ăn rất ngọt và thơm. Bánh cam được bán nhiều ở các chợ và hàng rong, là một món quà mà trẻ em rất ưa thích. Miền Bắc gọi bánh này là bánh rán, ở một số địa phương miền Trung thì gọi là bánh ram. Bánh cam Bánh tét Có nơi gọi là bánh đòn, một loại bánh của miền Trung và miền Nam, tương tự như bánh chưng ở miền Bắc. Bánh làm bằng gạo nếp, hình trụ dài, gói bằng lá chuối, có thể có nhân đậu và thịt mỡ hoặc không có nhân, khi ăn thì cắt thành khoanh tròn. Những dịp giỗ Tết không thể thiếu món bánh này. Một dĩa bánh tét Hủ lậu Cũ kĩ, lạc hậu, không còn hợp thời nữa. Bánh tổ Một loại bánh tết truyền thống của Quảng Nam. Bánh được chế biến từ nếp và đường, đựng trong những cái "rọ" bằng lá chuối. Bánh dẻo, ngọt, có thể cắt ăn ngay hoặc chiên giòn. Bánh tổ Tu hú Một loài chim có kích cỡ khá lớn, ăn quả và côn trùng, có tiếng kêu to dễ phân biệt. Chúng là chim đẻ nhờ, đẻ trứng của mình vào tổ của các loài chim khác, đặc biệt vào tổ của các loài chim dạng sẻ. Chim tu hú Ác là Còn có tên là bồ các, một loại chim lớn có thể dài từ 40-50 cm có đầu, cổ và ngực màu đen bóng, bụng và vai màu trắng. Ác là loài ăn tạp, chúng có thể ăn từ chim non tới trứng, thú, sâu bọ nhỏ, hạt ngũ cốc và nhiều thứ khác. Có lẽ vì vậy trong ca dao dân ca, ác là thường tượng trưng cho điều xấu hoặc những kẻ độc ác. Tuy nhiên trong văn hóa Trung Quốc, ác là lại có tên là hỉ thước, tượng trưng cho điềm lành. Ác là Chích chòe Tên chung của một số loài chim nhỏ, đuôi dài, ăn sâu bọ. Các loại chính chòe thường gặp là chích chòe than lông màu đen, có đốm trắng, chích chòe lửa có bụng màu gạch đỏ như lửa, chích chòe đất... Hiện nay chích chòe thường được nuôi làm cảnh. Chích chòe lửa Bìm bịp Tên chung để chỉ khoảng 30 loài chim do tiếng kêu của chúng tương tự như "bìm bịp" vào mùa sinh sản. Bìm bịp có lông cánh màu nâu như áo của thầy tu. Một con bìm bịp Cú Một loài chim ăn thịt, thường kiếm mồi vào ban đêm, có mắt lớn ở phía trước đầu. Người xưa xem cú là loài vật xấu xa, tượng trưng cho những người hoặc việc xấu, việc xui xẻo. Cú mèo Diều hâu Loài chim dữ, mỏ quặp, có thị lực rất sắc bén, hay bắt gà, chuột, rắn. Một loại diều hâu Sáo Tên chung của một số loài chim nhỏ, có bộ lông sẫm màu, thường sống trong các hốc, lỗ, và đẻ trứng có vỏ màu xanh lam hoặc trắng. Vài loài sáo có khả năng bắt chước tiếng người, nên thường được nuôi làm chim cảnh. Chim sáo Tam Điệp Tên một dãy núi nằm giữa Ninh Bình và Thanh Hóa, chạy ra biển theo hướng Tây Bắc–Đông Nam, gồm có 3 ngọn. Trên dãy núi này cũng có đèo Tam Điệp, con đường thiên lý cổ thời phong kiến từ Thăng Long vào Nam, đi qua 3 đoạn đèo Đèo phía Bắc, đèo phía Nam, và đèo Giữa. Đèo Tam Điệp cũng có tên dân gian là Ba Dội dội tiếng Việt cổ nghĩa là đợt, lớp. Một đèo, một đèo, lại một đèo, Khen ai khéo tạc cảnh cheo leo. Cửa son đỏ loét tùm hum nóc, Hòn đá xanh rì lún phún rêu. Đèo Ba Dội - Hồ Xuân Hương Phòng tuyến Tam Điệp Thu không Trống hoặc chiêng đánh vào mỗi mỗi chiều tối, lính huyện thu quân và đóng cổng thành thành bảo vệ huyện đường sau khi xem xét trong thành không có gì khả nghi. Kiều từ trở gót trướng hoa, Mặt trời gác núi chiêng đà thu không. Truyện Kiều Thâm tình Tình nghĩa sâu năng từ Hán Việt. Đồng Tròn, đồng Quang Tên hai cánh đồng thuộc nay thuộc địa phận Bái Đô, Đô Mỹ, xã Hà Tân, huyện Hà Trung, Thanh Hóa. Sề Đồ đan mắt thưa, nan thô, rộng, to hơn rổ, thường dùng đựng bèo, khoai... Xảo Đồ đan bằng tre tương tự như giần nhưng có mắt thưa hơn nhiều, thường dùng để lọc lấy thóc và loại bỏ rơm rác. Động tác dùng xảo cũng gọi là xảo. Sàng Đồ đan bằng tre, hình tròn, lòng nông, có lỗ nhỏ và thưa, thường dùng để làm cho gạo sạch thóc, trấu và tấm. Hành động dùng cái sàng mà lắc cho vật vụn rơi xuống, vật to còn lại cũng gọi là sàng. Sàng gạo Chợ phiên Chợ họp có ngày giờ nhất định. Đá vàng Cũng nói là vàng đá, lấy ý từ từ Hán Việt kim thạch. Kim là kim khí để đúc chuông, đỉnh. Thạch là đá. Ngày trước, những lời vua chúa hoặc công đức của nhân vật quan trọng được khắc ghi trên bia đá hay chuông, đỉnh đồng để lưu truyền mãi mãi. Đá vàng vì thế chỉ sự chung thủy son sắt, hoặc sự lưu truyền tên tuổi mãi mãi về sau. Quan Đơn vị tiền tệ cổ của nước ta dùng đến đầu thế kỷ 20. Đối với tiền quý cổ tiền, một quan bằng 60 tiền 600 đồng kẽm. Với tiền gián sử tiền, một quan bằng 360 đồng kẽm. Ruộng giữa đồng, chồng giữa làng Ruộng giữa đồng là ruộng gần, tiện canh tác, trông nom. Chồng giữa làng nghĩa là chồng cùng làng, tiện đi lại, tìm hiểu. Cũng có ý kiến cho rằng vợ chồng cùng làng lấy nhau thì tiền cheo gọi là cheo nội ít hơn là vợ chồng khác làng cheo ngoại.

ca dao về trái cây