Cuốn truyện luân chuyển quanh cuộc sống chiến đấu với sự hy sinh của không ít thiếu niên 13, 14 tuổi trong mặt hàng ngũ Đội thiếu hụt niên trinh sát của trung đoàn trằn Cao Vân. Mô tả súc tích quá trình tham gia đánh nhau và quyết tử ở tuổi đời cực kỳ trẻ của hơn ba Chương 177: Ngươi mẹ kiếp thực sự là nhân tài Đi tới chính là Đỗ Bối Khang cùng Lý lão bản! "Ha ha ha, Thẩm lão bản ngươi thật đúng là người bận bịu a!" Đỗ Bối Khang vừa nhìn thấy Thẩm Lâm, lập tức liền nở nụ cười. Web Truyện Online - Đọc truyện online, đọc truyện chữ,truyện hay. Website luôn cập nhật những bộ truyện mới thuộc các thể loại đặc sắc nhưtruyện tiên hiệp, truyện kiếm hiệp, haytruyện ngôn tình một cách nhanh nhất. Hỗ trợ mọi thiết bị như di động và máy tính bảng. Nhặt Nắng Chiều Rơi Đỗ Quyên Truyện Dài Tình Cảm. CHAPTERS 10 READ 90619. Please make a donation to help us pay for hosting cost and keep this website FREE. DONATE. DONATE A BOOK. If you have books published before 1975, please help us preserve South Vietnamese Literature by scanning or donating them to us. Đỗ đại nương thấy Liễu Ngọc Như lặng thinh liền từng bước ép sát, "Sao, muốn quỵt à?!" "Đỗ đại nương," Liễu Ngọc Như suy tư một lát liền phục hồi tinh thần rồi cất tiếng, "nếu đây là trách nhiệm của cửa hàng nhà ta thì dĩ nhiên nên bồi thường. Đọc Truyện Tiểu Thuyết. Đọc online tiểu thuyết: Hoàng tử bằng lăng và công chúa phượng - Chương 6. Lượt xem: 1775 - 16/01/2017 10:33:32. xem ngay tot xau, doc truyen cuoi, truyen co tich, tai phim, linh kiện điện t - Thông thường khi sáng tác truyện tanh, tác giả chỉ vẽ nhân vật, còn trợ lý sẽ đảm nhận phần bối cảnh và các chi tiết nhỏ. Cánh cửa vừa hé thì một núi thư của fan hâm một đổ ập xuống như tuyết lở. - Chà! - Shinichi buột miệng kêu lên. - Hứ! Thám tử lừng danh Những câu chuyện với nội dung hấp dẫn và đa dạng với đầy đủ các thể loại từ tiểu thuyết ngôn tình, truyện ma kinh dị, kiếm hiệp, tiên hiệp, xuyên không, truyện tranh,. và nhiều thể loại hấp dẫn khác.. Vay Tiền Cấp Tốc Online Cmnd. BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH VÕ HÙNG ĐẶC ĐIỂM TIỂU THUYẾT CỦA ĐỖ PHẤN LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN NGHỆ AN - 2015 BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH VÕ HÙNG ĐẶC ĐIỂM TIỂU THUYẾT CỦA ĐỖ PHẤN Chuyên ngành Văn học Việt Nam Mã số LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN Người hướng dẫn khoa học TS. LÊ THANH NGA NGHỆ AN - 2015 MỤC LỤC Trang MỞ ĐẦU...........................................................................................................1 1. Lí do chọn đề tài.........................................................................................1 2. Lịch sử vấn đề............................................................................................2 3. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi tư liệu khảo sát....................................4 4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu.............................................................4 5. Phương pháp nghiên cứu............................................................................5 6. Cấu trúc của luận văn.................................................................................5 Chương 1. ĐẶC ĐIỂM NHÂN VẬT TRONG TIỂU THUYẾT CỦA ĐỖ PHẤN........................................................................................................6 Khái niệm nhân vật, các kiểu nhân vật trong tiểu thuyết của Đỗ Phấn ........................................................................................................................6 Khái niệm nhân vật...........................................................................6 Các kiểu nhân vật trong tiểu thuyết của Đỗ Phấn.............................9 Bi kịch của nhân vật trong tiểu thuyết của Đỗ Phấn.............................23 Nhân vật mang bi kịch đỗ vỡ các chuẩn mực giá trị......................23 Con người với tham vọng và sức mạnh đồng tiền..........................26 Bi kịch mất niềm tin.......................................................................27 Bi kịch “gần như là sống”...............................................................29 Hình tượng con người trong tiểu thuyết của Đỗ Phấn..........................31 Con người bé nhỏ, tự ti, mặc cảm và vô dụng................................32 Con người cô đơn...........................................................................33 Con người tha hóa...........................................................................35 Tiểu kết chương 1.........................................................................................38 Chương 2. ĐẶC ĐIỂM CẤU TRÚC TRONG TIỂU THUYẾT CỦA ĐỖ PHẤN.......................................................................................................39 1 Cấu trúc trong tiểu thuyết của Đỗ Phấn trong xu thế chung của tiểu thuyết đương đại...................................................................................39 Cấu trúc văn bản tiểu thuyết.................................................................40 Sự phân bố không đồng đều giữa các chương................................40 Sự kết hợp của nhiều phong cách văn bản......................................47 Kết cấu cốt truyện.................................................................................48 Kết cấu dán ghép............................................................................48 Kết cấu song song...........................................................................51 Kết cấu tuyến tính...........................................................................52 Cấu trúc thời gian nghệ thuật trong tiểu thuyết của Đỗ Phấn...............54 Khái niệm thời gian nghệ thuật......................................................54 Thời gian sinh hoạt đời thường.......................................................55 Thời gian hồi tưởng........................................................................59 Thời gian ước lượng, tượng trưng..................................................63 Tiểu kết chương 2.........................................................................................65 Chương 3. ĐẶC ĐIỂM NGÔN TỪ VÀ NGHỆ THUẬT KỂ CHUYỆN TRONG TIỂU THUYẾT CỦA ĐỖ PHẤN....................................67 Sự độc đáo của lớp ngôn từ miêu tả......................................................67 Ngôn ngữ khắc họa chân dung nhân vật.........................................68 Sự uyển chuyển của lớp từ ngữ gợi cảm giác.................................72 Sự đa sắc thái trong giọng điệu.......................................................75 Kết cấu ngôn ngữ nghệ thuật tiểu thuyết của Đỗ Phấn.........................80 Hòa trộn lời kể, tả, bình luận..........................................................80 Hạn chế đối thoại, gia tăng độc thoại.............................................85 Nghệ thuật kể chuyện trong tiểu thuyết của Đỗ Phấn...........................89 Người kể chuyện ngôi thứ ba- khách quan hóa câu chuyện...........89 Người kể chuyện ngôi thứ nhất - cái tôi thứ hai của nhà văn.........96 Tiểu kết chương 3.......................................................................................100 KẾT LUẬN..................................................................................................101 DANHMỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO....................................................104 1 2 MỞ ĐẦU 1. Lí do chọn đề tài Tiểu thuyết được coi là "cỗ máy cái" trong văn học hiện đại xét ở khả năng khái quát hiện thực, khả năng phản ánh không chỉ đời sống của một, mà là là sự cộng sinh thể loại. Sự vận động của văn học Việt Nam đương đại cho thấy tiểu thuyết đã thực sự xứng đáng với những gì người ta đã từng nghĩ về nó, ở tư cách là một thể loại tiên phong trong sự khái quát hiện thực, trong sự làm mới đời sống văn học. Nghiên cứu tiểu thuyết chính là góp phần tìm hiểu diện mạo văn học Việt Nam đương đại, và những thành tựu của bản thân thể loại này. Là một họa sĩ, nhưng khi đến với văn chương, thể nghiệm, và rồi dần dần khẳng định ở thể loại tiểu thuyết, Đỗ Phấn, với một phong cách riêng, tạo được ít nhiều dấu ấn trong lòng bạn đọc. Nghiên cứu tiểu thuyết của Đỗ Phấn là góp phần tìm hiểu thêm một khía cạnh thú vị của sáng tạo văn học nó luôn mời gọi và mở lòng đón nhận, thậm chí hào phóng mang đến những thành tựu cho bất cứ ai có tài năng và đam mê. Đấy cũng là một điểm rất quan trọng của văn học trong thế giới phẳng ngày nay. Là một người sinh ra vào những năm năm mươi của thế kỉ trước. Bằng cái lịch lãm của một người xứ Bắc, bằng cái từng trải của một người đã rất quen thuộc với đời sống đô thị, chứng kiến sự vận động của đời sống kinh tế - xã hội ở trung tâm, và bằng con mắt quan sát của một họa sĩ, Đỗ Phấn đã bằng tiểu thuyết của mình, khái quát một cách khá sâu sắc và thành công nhiều mặt của đời sống, từ đó gửi đến người đọc những thông điệp có giá trị về cuộc sống, phận người... Nghiên cứu tiểu thuyết của Đỗ Phấn là góp phần chỉ ra những nét dáng nhất định trong trạng thái của tồn tại, của nhân sinh. 3 2. Lịch sử vấn đề Mặc dù xuất hiện chưa lâu, và cũng không phải bắt đầu khởi nghiệp từ văn chương như nhiều tác giả tiểu thuyết khác, nhưng các sáng tác, cũng như tiểu thuyết của Đỗ Phấn, đã thu hút được sự chú ý của nhiều người nghiên cứu. Tuy nhiên, theo khảo sát của chúng tôi, những đánh giá về các sáng tác của Đỗ Phấn nhưng phần lớn chỉ đánh giá ở mức độ riêng lẻ. Cụ thể đã có một số bài nghiên cứu về đề tài hiện thực đô thị trong tiểu thuyết... và tản văn. Về cơ bản, những nghiên cứu về Đỗ Phấn tập trung trên mấy nét cơ bản sau - Khẳng định những thành công của Đỗ Phấn ở phương diện kĩ thuật viết tiểu thuyết. Trần Nhã Thụy trong bài “Vừa đi vừa bịa” đăng trong tiểu thuyết Vắng mặt, Nxb Hội nhà văn, 2010 viết “Không còn hư thực lẫn lộn nữa mà là vắng mặt. Con người soi gương mà hốt hoảng không nhìn thấy khuôn mặt mình. Nhưng sản phẩm không “Nói triết”, Tác giả cũng loại trừ một lối viết ẩn dụ, hay huyền ảo, hay diễu cợt, hay luận đề... Tác giả không chỉ tập trung làm rõ những tính chất của sự thật bằng cách lấy hiện thực làm chất lửa và phổ lên đó là cái giọng buồn, cái nụ cười thầm của mình”. - Bài Đỗ Phấn giữa chúng ta của Đoàn Ánh Dương đăng trên trang http //vanchuong ra ngày 20 tháng 4 năm 2012 đã đưa ra một số đối sánh để làm rõ thêm trong sáng tác của Đỗ Phấn “... Nguyễn Việt Hà và Đỗ Phấn đều từ các lĩnh vực khá muộn màng đến với văn chương, mỗi người một kiểu, mỗi cách và đều độc đáo. Ở Nguyễn Việt Hà nó đọng lại ở cấu trúc nghệ thuật ngôn từ và Đỗ Phấn, nó lửng lơ ở ngoài cái cấu trúc ngôn từ nghệ thuật ấy .. Sáng tác của Đỗ Phấn không nhằm bày ra cho người đọc cấu trúc ngôn từ nghệ thuật, cũng không tham vọng cao đàm khoát luận về giá trị, tư tưởng, tự do, chân lý. Nó chỉ bày ra một sự thụ cảm cuộc sống một cách có nghệ thuật”. - Trong trang tác giả Hoài Nam viết “Nếu bạn đọc tìm ở tiểu thuyết Đỗ Phấn một câu chuyện thì sẽ không thấy, nhưng anh ta tạo ra cảm giác về đời sống”. Hoài Nam nói rằng, không nên tìm Đỗ 4 Phấn ở việc làm mới một cái gì cả, anh chỉ là người kể chuyện, kể lại những gì đã chứng kiến. Và như nhiều người vẫn nhận xét, dù nghiệp văn của Đỗ Phấn chỉ trung thành với một đề tài Hà Nội thì theo Hoài Nam “Mỗi cuốn sách của ông vẫn là một thế giới khác”. - Trên đây là một số ý kiến đánh giá về tiểu thuyết của Đỗ Phấn. Tuy còn ít nhưng cũng phần nào giúp chúng ta hiểu về đặc điểm tiểu thuyết Đỗ Phấn. Qua những ý kiến trên chúng tôi sẽ tiếp thu để bổ sung thêm trong luận văn của mình đồng thời cũng làm căn cứ để đánh giá về đặc điểm tiểu thuyết của Đỗ Phấn. Những năm gần đây, tiểu tuyết của Đỗ Phấn đã trở thành đề tài nghiên cứu ở một số trường đại học, đặc biệt là ở bậc đào tạo thạc sĩ. Luận văn Thạc sĩ đầu tiên được thực hiện ở trường đại học Vinh của học viên Trần Kim Dũng với đề tài Hiện thực đô thị trong tiểu thuyết Đỗ Phấn đã khảo sát một cách toàn diện về hiện thực đô thị đặc biệt là mối quan hệ giữa hiện thực đô thị và con người đô thị trong cơn xoáy lốc của cơm áo, gạo tiền. Luận văn Thạc sĩ thứ hai được thực hiện ở Đại học Sư phạm Huế là của học viên Tăng Thị Thúy Tiền với đề tài Cảm thức hiện sinh trong tiểu thuyết của Đỗ Phấn, đã khai thác một cách có hệ thống về tiểu thuyết Đỗ Phấn dưới góc nhìn của chủ nghĩa hiện sinh. Trong luận văn này, những kiểu con người đã được tác giả khai thác một cách thấu đáo, đặc biệt là kiểu con người vong thân và kiểu con người tự lưu đày. Tác giả luận văn đã cho chúng ta thấy được sự tương đồng trong cảm hứng sáng tác và quan trọng hơn nữa là đem đến cho sự nhân bản cho con người, dù trong bất cứ hoàn cảnh nào, hay xã hội nào thì quyền được sống đúng với bản chất của con người là quyền cơ bản nhất. Khi lựa chọn đề tài này, chúng tôi đã khảo sát những văn bản trên và đã mạnh dạn thực hiện đề tài với hy vọng đóng góp một phần cho việc hệ thống hóa đặc điểm tiểu thuyết của Đỗ Phấn và nhìn nhận vai trò Đỗ Phấn trong diện mạo tiểu thuyết nước nhà đương đại. 5 3. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi tư liệu khảo sát Đối tượng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu của luận văn là đặc điểm tiểu thuyết của Đỗ Phấn Phạm vi tư liệu khảo sát Để thực hiện đề tài này, chúng tôi khảo sát toàn bộ 7 cuốn tiểu thuyết của nhà văn Đỗ Phấn  Vắng mặt, NXB Bách Việt, Hà Nội.  Rừng người, NXB Phụ Nữ, Hà Nội.  Chảy qua bóng tối, NXB Trẻ, Hà Nội.  Con mắt rỗng, NXB Văn Học, Hà Nội.  Rụng xuống ngày hư ảo, NXB Trẻ, Hà Nội.  Ruồi là ruồi, NXB Trẻ, Hà Nội.  Gần như là sống, NXB Trẻ, Hà Nội. Ngoài ra còn khảo sát thêm truyện vừa Dằng dặc triền sông mưa, NXB Trẻ, Hà Nội 4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu Mục đích nghiên cứu Tìm hiểu các tiểu thuyết của Đỗ Phấn, chỉ ra những đóng góp của nhà văn trong việc khái quát bức tranh đời sống, cũng như đóng góp của ông cho tiểu thuyết Việt Nam đương đại trên một số bình diện nghệ thuật. Nhiệm vụ nghiên cứu Luận văn hướng đến ba nhiệm vụ chính Tìm hiểu đặc điểm của thế giới nhân vật trong tiểu thuyết của Đỗ Phấn. Nghiên cứu tiểu thuyết của Đỗ Phấn trên bình diện cấu trúc. 6 Nghiên cứu đặc điểm ngôn từ và nghệ thuật kể chuyện trong tiểu thuyết của Đỗ Phấn. 5. Phương pháp nghiên cứu - Phương pháp hệ thống - cấu trúc - Phương pháp so sánh đối chiếu - Phương pháp phân tích tổng hợp - Phương pháp so sánh 6. Cấu trúc của luận văn Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, đề tài của chúng tôi được triển khai thành 3 chương Chương 1 Đặc điểm nhân vật trong tiểu thuyết của Đỗ Phấn Chương 2 Đặc điểm cấu trúc trong tiểu thuyết của Đỗ Phấn Chương 3 Đặc điểm ngôn từ và nghệ thuật kể chuyện trong tiểu thuyết của Đỗ Phấn 7 Chương 1 ĐẶC ĐIỂM NHÂN VẬT TRONG TIỂU THUYẾT CỦA ĐỖ PHẤN Khái niệm nhân vật, các kiểu nhân vật trong tiểu thuyết của Đỗ Phấn Khái niệm nhân vật Nhân vật văn học đóng vai trò trung tâm trong tác phẩm văn chương. Nhân vật trong tác phẩm văn chương chính là "bản sao" của hình ảnh con người và cuộc sống con người. Đó là tiếng nói của thế giới nội tâm con người và cũng là tấm gương phản chiếu xã hội loài người nên không phải ngẫu nhiên mà M. Gorky đã từng phát biểu rằng “văn học là nhân học”. Theo Từ điển thuật ngữ văn học Nhân vật văn học được định nghĩa là “Con người cụ thể được miêu tả trong các tác phẩm văn học. Nhân vật văn học có thể có tên riêng Tấm, Cám, chị Dậu, anh Pha, cũng có thể không có tên riêng như “thằng bán tơ”, “một mụ nào” trong Truyện Kiều. Trong truyện cổ tích, ngụ ngôn, đồng thoại, thần được đưa ra để nói chuyện với con người. Khái niệm nhân vật văn học có khi được sử dụng như một ẩn dụ, không chỉ một con người cụ thể nào cả, mà chỉ một hiện tượng nỗi bật trong tác phẩm. Chẳng hạn có thể nói nhân dân là nhân vật chính trong Đất nước đứng lên của Nguyên Ngọc, đồng tiền là nhân vật chính trong Ơgiênni Grăngđê của Bandắc. Nhân vật văn học là một đơn vị nghệ thuật đầy tính ước lệ, không thể đồng nhất nó với con người có thật trong đời sống. Chức năng cơ bản của nhân vật văn học khái quát tính cách của con người. Do tính cách là một hiện tượng xã hội, lịch sử, nên chức năng khái quát tính cách của nhân vật văn học cũng mang tính lịch sử. trong thời đại xa xưa, nhân vật văn học của thần thoại, truyền thuyết thường khái quát năng lực 8 và sức mạnh của con người Nữ Oa đội đá vá trời, Lạc Long Quân và Âu Cơ đẻ ra trăm trứng…. Ứng với xã hội phân chia giai cấp, nhân vật của truyện cổ tích lại khái quát các chuẩn mực giá trị đối kháng trong quan hệ giữa người và người như thiện với ác, trung với ninh, thông minh với ngu đần… Vì tính cách là kết tinh của môi trường, nên nhân vật văn học là người dẫn dắt độc giả vào các thế giới khác nhau của đời sống. Nhân vật văn học còn thể hiện quan niệm nghệ thuật và lý tưởng thẩm mĩ của nhà văn về con người. Vì thế, nhân vật luôn gắn chặt với chủ đề tác phẩm. Nhân vật văn học được miêu tả qua các biến cố, xung đột, mâu thuẫn và mọi chi tiết các loại. Đó là mâu thuẫn của nội tâm nhân vật, mâu thuẫn giữa nhân vật này với nhân vật khác, giữa tuyến nhân vật này với tuyến nhân vật kia. Cho nên, nhân vật luôn được gắn liền với cốt truyện. Nhờ được miêu tả qua xung đột, mâu thuẫn, nên khác với hình tượng hội họa và điêu khắc, nhân vật văn học là một chỉnh thể vận động, có tính cách, được bộc lộ dần trong không gian, thời gian, mang tính chất quá trình. Từ những góc độ khác nhau có thể chia nhân vật văn học thành nhiều kiểu loại khác nhau. - Dựa vào vị trí đối với nội dung cụ thể, với cốt truyện của tác phẩm, nhân vật văn học được chia thành nhân vật chính và nhân vật phụ. - Dựa vào đặc điểm của tính cách, việc truyền đạt lí tưởng của nhà văn, nhân vật văn học được chia thành nhân vật chính diện và nhân vật phản diện. - Dựa vào thể loại văn học, ta có nhân vật tự sự, nhân vật trữ tình, nhân vật kịch. - Dựa vào cấu trúc hình tượng, nhân vật được chia thành nhân vật chức năng hay mặt nạ, nhân vật loại hình, nhân vật tính cách, nhân vật tư tưởng” [19; 202 - 203]. Từ những tiêu chí trên về nhân vật, khi soi chiếu với toàn bộ tiểu thuyết Đỗ Phấn, chúng ta có thể nhận thấy rằng, nhân vật trong tiểu thuyết 9 Đỗ Phấn vẫn mang những tiêu chí về nhân vật như chúng ta lâu nay vẫn quan niệm. Tuy nhiên, có những đóng góp không nhỏ của ông trong việc đem đến một cách nhìn khác về nhân vật. Nhân vật của ông được xây dựng dựa trên sự cảm nhận và sự ghép nối của chính người đọc. Khi xây dựng nhân vật, đặc biệt là nhân vật chính, Đỗ Phấn xóa nhòa gần như toàn bộ chân dung của nhân vật, ông chỉ dừng lại ở việc gợi chứ không tả. Chính vì thế, nhân vật của ông mang tính biểu tượng rất cao, đó có thể là một ai đó ta có thể bắt gặp bất cứ đâu, hoặc đó cũng có thể là chính ta, hay đó cũng chính là một phần của nhà văn. Trong 7 cuốn tiểu thuyết của Đỗ Phấn mà chúng tôi khảo sát thì, trừ hai cuốn Ruồi là ruồi và Chảy qua bóng tối, 5 nhân vật trong 5 cuốn tiểu thuyết còn lại của ông đều có chung một kiểu nhân vật đó là những người đàn ông trung niên độc thân, họ đều là trí thức, họ có cuộc sống thân phận, bé nhỏ và tự nhân thấy mình như phần thừa của xã hội. Phần nhân vật còn lại trong tiểu thuyết của ông viết về những thị dân sống ở Hà Nội mà cuộc sống của họ từng ngày qua là những chật vật mưu sinh đầy khốn khó và đánh đổi. Qua hệ thống nhân vật đầy tính biểu tượng đó, chúng ta nhận thấy được quan niệm nghệ thuật về con người của nhà văn. Đó là những thân phận cô đơn, xa lạ với cuộc đời thực. Họ là những con người mang thương tích và bi kịch. Từ những tiêu chí trên và thông qua việc khảo sát toàn bộ tiểu thuyết của nhà văn Đỗ Phấn, ở chương này, chúng tôi khảo sát các kiểu nhân vật trong tiểu thuyết của ông để từ đó mà khái quát nên những kiểu con người trong tiểu thuyết của ông. Thông qua đó, chúng ta thấy được sự “hạnh phúc trong bất hạnh” [23] của nhà văn trong việc tái hiện và thấu thị được nỗi đau của kiếp nhân sinh và cái nhìn hết sức tinh tế và chân thực của ông trong việc thức tỉnh lương tri con người. 10 Các kiểu nhân vật trong tiểu thuyết của Đỗ Phấn Những người đàn ông trí thức trung niên độc thân Như chúng tôi đã trình bày ở trên, thì 5 trong 7 cuốn tiểu thuyết của Đỗ Phấn chúng ta thấy có hiện tượng lặp lại kiểu nhân vật chính là những người đàn ông trí thức trung niên độc thân. Tuy nhiên, kiểu nhân vật này không đem đến cho người đọc sự nhàm chán mà ngược lại, đem đến cho người đọc một cách nhìn khác về thân phận con người. Kiểu nhân vật này xuất hiện trong tiểu thuyết Đỗ Phấn thường ở độ tuổi từ 45 đến 55, họ đều là thành phần trí thức với những công việc và tình trạng hôn nhân như sau TT Nhân vật Tình trạng hôn nhân Tiểu thuyết Nghề nghiệp 1 Vũ Độc thân Vắng mặt Họa sĩ 2 Văn Độc thân Rừng Người Kỹ sư kinh tế xây dựng 3 Thế Hoàng Độc thân Con mắt rỗng Họa sĩ 4 Thành Gần như là sống Kiến trúc sư, họa sĩ 5 Đức Ly hôn Độc thân Rụng xuống ngày hư ảo Nhà báo Theo quan niệm của người Phương Đông thì độ tuổi từ 40 đến 50 là độ tuổi chính chắn của cuộc đời mỗi con người thông qua tuyên bố gần như là mệnh đề của Khổng Tử “tam thập nhi lập, tứ thập nhi bất hoặc, ngũ thập tri thiên mệnh” ba mươi tuổi thì lập thân, bốn mươi tuổi thì hết nghi hoặc, có nghĩa là chính chắn về mặt tri thức, năm mươi tuổi biết được mệnh trời, có nghĩa là đã biết được sự thành bại. Tuy nhiên, cả năm nhân vật mà chúng tôi khảo sát họ gần như chênh vênh trong cuộc đời. Dường như có một nhãn quan chung cho cả năm nhân vật trong cả năm cuốn tiểu thuyết mà chúng tôi khảo sát. Có khác ở đây là họ diễn vai của mình cho từng nhân vật, từng cái tên khác, từng công việc khác. Để rồi khi 11 đối diện với chính mình họ cũng có những nỗi đau như thế, có những nỗi buồn như thế, thậm chí đến cả sở thích ăn uống, làm tình cũng giống nhau. Họ là những mảng khác nhau của một quan niệm, đó là những nhân vật mang trên mình nỗi đau của tuổi hay nói đúng hơn là nỗi đau của thời gian. Độ tuổi của nhân vật có lẽ cùng độ tuổi với nhà văn Đỗ Phấn. Thời gian đã làm cho họ chênh vênh trong cuộc đời của họ. Họ phải chứng kiến những cơn biến động của lịch sử, và đương nhiên đó cũng đồng thời là biến động của văn hóa. Cơn lốc của lịch sử cuốn theo cuộc đời và số phận của họ. Điều đặc biệt ở đây là họ đã từng chứng kiến những năm tháng thanh bình của một Hà Nội lịch lãm trước chiến tranh, họ đã chứng kiến nỗi đau khi phải rời xa Hà Nội trong những ngày có chiến sự, rồi họ lại phải chứng kiến những mất mát về cả vật chất lẫn tinh thần, cả máu và nước mắt trong cuộc chiến “Anh đã sống qua những tháng năm buồn bã của cuộc đời khi đất nước có quá nhiều kẻ thù. Chứng kiến bom rơi đạn nổ suốt dọc chiều dài gầy nhẳng của cái hình chữ S trên bản đồ. Một hình chữ S thương khó mịt mù bom đạn trong suốt hai mươi năm liền. Bây giờ mới thấy sợ. Và chán ghét những đầu óc thù hằn” [31; 41]. Những năm tháng bao cấp không phải chịu cảnh mưa bom bão đạn nhưng cuộc sống khốn khó của thời bao cấp đã làm mất đi phần thể diện trong con người họ. Rồi sau đó họ lại phải chứng kiến sự mất mát về văn hóa của cả một ngàn năm văn hiến trong cuộc chạy đua vũ bão của cơ chế thị trường. Rồi cuối cùng, họ bị bỏ lại trong cuộc chạy đua vĩ đại đó. Và đương nhiên họ cũng không còn là chính họ nữa. Khi đọc những trang văn của Đỗ Phấn, chúng ta không khỏi không liên tưởng đến một thế hệ nhà văn trở về từ cuộc thế chiến thứ nhất trong văn chương Hoa Kỳ, lớp nhà văn mà Hemingway đã từng gọi là “thế hệ mất mát”. Họ chiến thắng trong chiến trận, nhưng họ bại trận trong chính cuộc đời họ. 12 Họ trở về đời thực để rồi ngơ ngác trước sự “lạ phố, lạ nhà” “Xã hội đổi thay đến không ngờ, những gì tôi được học để xây dựng nó hình như không dùng đến nữa. Thậm chí còn khó mà tưởng tượng ra hình ảnh thật sự dù rằng nó vẫn thường xuyên được gia công hoàn thiện trên sách vở tuyên truyền. Nó như thế nào? Ai? Và đi đến đâu? Tôi cứ như chiếc nan hoa gẫy văng ra khỏi vành bánh xe đạp. Để biết đoạn dây thép ấy từ đâu ra cũng không phải là chuyện dễ với lớp trẻ hôm nay nữa rồi” [34; 365]. Độ tuổi của nhân vật đã nói lên rằng họ đã thuộc về một nền văn hóa khác, những chuẩn giá trị khác. Họ đã “lỗi thời” với những gì mà họ đang đối mặt hàng ngày. Về công việc, tất cả trong số họ đều là những công chức làng nhàng, thất nghiệp hoặc gần như thất nghiệp. Điều đặc biệt ở đây là truyện được kể với điểm nhìn bên trong nên sự ý thức về công việc cũng như những phản ứng về công việc của nhân vật được tác giả thể hiện hết sức chân thật và tinh tế. Đối với một công chức bình thường, độ tuổi 40 đến 55 là độ tuổi đánh giá thành bại của một người trong công việc. Họ sẽ được cất nhắc ở một vị trí cao nhất mình có thể có và nếu không sẽ chờ để nghỉ hưu. Đây cũng là giai đoạn hết sức chênh vênh trong cuộc đời công chức của một con người, bởi hai lẽ hoặc là họ sẽ được cất nhắc lên vị trí cao, hai là ngược lại nằm trong diện giảm biên chế. Xét về đời sống công chức, các nhân vật chúng ta đang khảo sát rơi vào trường hợp thứ hai, tuy nhiên họ vẫn tiếp tục làm việc và thậm chí gặt hái được nhiều thành công trong công việc cho chính bản thân họ và họ vẫn ổn đối với chính họ và trong con mắt của những đồng nghiệp và thị dân khác. Họa sĩ Vũ trong Vắng mặt đã rất mặc cảm về chuyện bỏ việc ra làm ngoài bởi theo quan niệm của thời đó “không có định nghĩa trí thức ngoài quốc doanh. Đi lao động kiếm ăn mà cũng lén lút vụng trộm. Và mang tiếng xấu. Làm ngoài” [29; 40]. Sự mặc cảm này đã trở nên uất ức, khổ sở khi mà 13 nhân vật phải che giấu việc không có việc làm của mình như một người có tội “Mi giấu kín chuyện bỏ việc với bà con dân phố. Bằng một phương pháp rất cũ nhưng đầy công hiệu. Sáng sáng vẫn đều đặn dắt xe đạp ra đường. Ăn sáng, uống cà phê ở một quán xa nhà. Không người quen biết. Cái cảm giác như một kẻ vắng mặt giữa chốn đông người nhiều khi làm mi bị ức chế. Ê chề. Chán nản. Làm nhân dân đã là thứ bậc cuối cùng trong xã hội. Nhưng mi có vẻ như còn dưới nhân dân một bậc nữa. làm nhân dân một mình” [29; 41]. Tuy nhiên, với những cố gắng của mình cộng với sự giúp đỡ của bạn bè, Vũ cũng đã trở thành họa sĩ có danh tiếng. Kỹ sư Văn trong Rừng người sau mười năm làm công chức nhà nước “tấm bằng kinh tế xây dựng chẳng dùng vào việc gì. Anh làm việc ở phòng tuyên truyền xí nghiệp đồ gỗ. kẻ khẩu hiệu an toàn lao động và nội quy sản xuất cho các phân xưởng. May mắn ngày ấy chưa cải tiến chữ quốc ngữ như bây giờ. Nếu những cái cách như vậy sớm lên khoảng mười năm, anh đã được liệt vào diện tái mù” [31; 37]. Rồi anh cũng xin chuyển công tác, nhưng anh không lường trước được những rủi ro đang đợi anh đó là “cái cổng sau” của cơ quan mới. Rồi cũng như họa sĩ Vũ, anh chọn con đường làm ngoài. Tuy nhiên, cũng như họa sĩ Vũ, anh cũng có sự may mắn và được sự giúp đỡ của người bạn tốt bụng nên công việc cũng suôn sẽ và nuôi sống anh trong suốt phần còn lại của cuộc đời. Thành trong Gần như là sống cũng chung số phận với hai nhân vật trên, mặc dầu tốt nghiệp chuyên ngành kiến trúc nhưng công việc của anh lại là quản lý hồ sơ. Một công việc chẳng liên quan gì đến chuyên môn. Không những thế, đời sống công chức nhạt nhẽo, đố kỵ, đấu đá đã đưa anh đến quyết định là phải thay đổi cuộc đời của mình, thay đổi để là chính anh. Rồi anh trở thành một họa sĩ bất đắc dĩ. Hội họa đem đến cho anh niềm vui và niềm ham sống. Hội họa làm sống dậy trong anh những ký ức về cảnh vật và con người, 14 giúp anh níu giữ những khoảnh khắc bình yên, những góc khuất tưởng như mịt mù quên lãng trong những năm tháng bon chen cơm áo và lối sống nhạt nhẽo tình người đã làm cho anh tưởng rằng là đã quên. Với nhân vật này, nghệ thuật dường như đã cứu xét một phần cuộc đời anh. Trong Con mắt rỗng, lần đầu tiên Đỗ Phấn xây dựng một chân dung nghệ sĩ trọn vẹn. Hơn thế nữa, Thế Hoàng là nghệ sĩ có bản lĩnh và ý thức được trách nhiệm của nghề nghiệp và quan trọng hơn, anh có đam mê. Sự đam mê cộng với tài năng đã đem đến cho anh một vị trí và thành công trong sự nghiệp. Anh là họa sĩ sống hết mình với đam mê và công việc. Đó là tất cả ý nghĩa đời sống của anh. Khi đã không còn đam mê nữa, anh chấp nhận từ bỏ cuộc sống. Đức trong Rụng xuống ngày hư ảo, mặc dầu đã năm mươi tuổi rồi nhưng vẫn chịu thân phận nhà báo hợp đồng. Tuy nhiên với sự sắc sảo trong công việc cộng với những kinh nghiệm của một nhà báo lâu năm đã đem lại cho ông một cuộc sống công chức tạm ổn, cũng ít nhiều “dăm ba bữa nhậu” với bạn bè. Cũng như các nhân vật đàn ông trung niên trí thức độc thân trong các tiểu thuyết trên mà chúng tôi khảo sát, Đức cũng chẳng mảy may tìm được sự yêu thích trong công việc nhà nước của mình, thậm chí là chán ghét và ghê sợ bởi những mưu mô và khuất tất thậm chí là vô đạo đức của cánh nhà báo. Thế nhưng, hắn muốn nghỉ việc người ta cũng không cho hắn nghỉ vì những quan hệ của hắn thậm chí ngay cả khi hắn bị ốm và có vấn đề về thần kinh. Chỉ đến khi hắn bị điên hẳn và kết thúc phần đời còn lại trong nhà thương điên thì chính thức hắn mới được nghỉ việc. Trong quan niệm của người Việt, thành công của một con người thể hiện ở ba phương diện công việc, tài sản và có gia đình riêng. Điều đó đã thể hiện trong câu ca dao từ ngàn xưa rằng “tậu trâu, dựng vợ, làm nhà/có ba thứ đó mới ra con Người”. Đó là trách nhiệm và cũng là thước đo giá trị của 15 người đàn ông. Thế nhưng trong năm nhân vật đàn ông mà chúng tôi khảo sát, cả năm nhân vật đều độc thân, mà lại độc thân ở tuổi xế chiều. Năm nhân vật này trong tiểu thuyết Đỗ Phấn đều mất niềm tin vào gia đình, hoặc tự cảm thấy mình không phù hợp với cuộc sống gia đình. Nhân vật Vũ trong Vắng mặt gần như mất hẳn niềm tin vào hạnh phúc gia đình “Từ lâu, mi đã không còn nghĩ đến một hạnh phúc theo kiểu gia đình. Nó cũng đầy rẫy những giả tạo chán chường. Như cuộc sống gia đình thằng Khoa, thằng Hà”. Cuộc sống vật vã cơm áo gạo tiền, những người vợ không chung thủy và những đứa trẻ con hư hỏng, mè nheo đã làm cho Kỹ sư Văn trong Rừng người thấy hôn nhân chỉ là sự ràng buộc và tiềm ẩn những nguy cơ giết mòn tình yêu và cả sự tự do, đó là một “Tưởng tượng ra cuộc hôn nhân với nàng, anh biết chắc phải đánh đổi những tháng năm vui vẻ bình an này lấy một cuộc sống gia đình mè nheo cơm áo cãi cọ như những người thành phố khác” [31; 41]. Nếu như sự tồn tại của con người chỉ là những bản ghi, những “sự việc” và con số, thì những giá trị về hôn nhân gia đình nó trở thành mô hình một mô hình đơn giản đến phũ phàng “mô hình hạnh phúc thị dân nhạt phèo như nó đã từng. Nó nhạt đến mức không cần dùng đến trí tuệ. Thức dậy quần quần áo áo con đực cõng con cái ra khỏi nhà trên chiếc xe máy mò lên phố ăn sáng uống cà phê. Ăn uống phải chia nhau cái cảm giác không vừa lòng bởi mỗi con có một ý thích khác. Chiều về chia nhau đón con tắm rửa cho chúng và ngồi vào mâm cơm vào lúc tám giờ tối. Cơm xong con đực nghiến răng ngồi xem phim tình cảm cảm dài tập của Hàn Quốc cùng con cái. Sau hai lần chảy nước mắt vì cuộc chia ly trên màn hình con cái bắt đầu ngáp vặt. Cả hai lên giường vùi mình vào giấc ngủ không cần đến mộng mơ. Gần sáng dậy làm một phát vội vàng không cảm xúc. Ngày nào cũng thế. Không cãi cọ chửi bới nhau là may lắm rồi” [32; 19]. Ngày đăng 29/08/2019, 1215 TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI KHOA NGỮ VĂN =====***===== PHÙNG THỊ THU TRANG TIỂU THUYẾT CHÚA ĐẤT CỦA ĐỖ BÍCH THÚY DƯỚI GĨC NHÌN VĂN HĨA KHĨA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC Chuyên ngành Văn học Việt Nam HÀ NỘI, 2019 TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI KHOA NGỮ VĂN =====***===== PHÙNG THỊ THU TRANG TIỂU THUYẾT CHÚA ĐẤT CỦA ĐỖ BÍCH THÚY DƯỚI GĨC NHÌN VĂN HĨA KHĨA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC Chun ngành Văn học Việt Nam Người hướng dẫn khoa học Nguyễn Thị Tuyết Minh HÀ NỘI, 2019 LỜI CẢM ƠN Lời đầu tiên, xin gửi lời cảm ơn chân thành, sâu sắc đến TS Nguyễn Thị Tuyết Minh – Giảng viên tổ Văn học Việt Nam trực tiếp hướng dẫn, bảo, động viên suốt q trình thực đề tài Tơi xin gửi lời cảm ơn thầy/ cô khoa Ngữ văn – Trường Đại học Sư phạm Hà Nội tạo điều kiện tốt để tơi hồn thành khóa luận Khóa luận hồn thành song khơng tránh khỏi thiếu sót Tơi mong nhận góp ý thầy/ để khóa luận tơi hồn thiện Tơi xin chân thành cảm ơn! Hà Nội, ngày tháng năm 2019 Sinh viên Phùng Thị Thu Trang LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan khóa luận tốt nghiệp cơng trình nghiên cứu riêng hướng dẫn TS Nguyễn Thị Tuyết Minh khơng trùng lặp với đề tài nghiên cứu khác Tơi xin hồn tồn chịu trách nhiệm với lời cam đoan mình! Hà Nội, ngày tháng năm 2019 Sinh viên Phùng Thị Thu Trang MỤC LỤC MỞ ĐẦU 1 Lí chọn đề tài Lịch sử vấn đề 3 Mục đích nghiên cứu Đối tượng phạm vi nghiên cứu Phương pháp nghiên cứu 6 Đóng góp khóa luận 7 Cấu trúc khóa luận NỘI DUNG Chương GIỚI THUYẾT CHUNG Mối quan hệ văn hóa - văn học hướng nghiên cứu văn học từ góc nhìn văn hóa Mối quan hệ văn hóa – văn học Hướng nghiên cứu văn học từ góc nhìn văn hóa 10 Văn hóa dân tộc H’Mông Hà Giang 12 Tác giả Đỗ Bích Thúy với văn hóa dân tộc H’Mơng 14 Đơi nét tác giả Đỗ Bích Thúy 14 Sự nghiệp sáng tác 15 Tiểu thuyết Chúa đất Đỗ Bích Thúy phản ánh văn hóa dân tộc H’Mơng 18 Tiểu kết 20 Chương BIỂU HIỆN VĂN HĨA TRONG TIỂU THUYẾT CHÚA ĐẤT CỦA ĐỖ BÍCH THÚY 22 Đời sống sinh hoạt vật chất 22 Đời sống văn hóa tinh thần 28 Những phong tục truyền thống 28 Một số luật tục, hủ tục 30 Ý thức bảo tồn phát huy giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp 33 Tiểu kết Chương MỘT SỐ PHƯƠNG DIỆN NGHỆ THUẬT BIỂU HIỆN VĂN HÓA TRONG TIỂU THUYẾT CHÚA ĐẤT CỦA ĐỖ BÍCH THÚY 36 Hình tượng nghệ thuật 36 Hình tượng người 36 Hình tượng thiên nhiên 44 Ngôn ngữ giọng điệu 46 Ngôn ngữ đặc trưng vùng cao Hà Giang 47 Giọng điệu trữ tình 48 Thời gian không gian nghệ thuật 49 Thời gian nghệ thuật 49 Không gian nghệ thuật 51 Tiểu kết KẾT LUẬN 53 TÀI LIỆU THAM KHẢO 55 MỞ ĐẦU Lí chọn đề tài Văn học văn hóa hai phạm trù có mối quan hệ với Văn học gương mặt, nơi kết tinh văn hóa dân tộc, văn hóa có khả chi phối, tác động chiều sâu văn học Gần “nhờ UNESCO phát động thập kỷ phát triển văn hóa, nhờ thức nhận văn hóa động lực phát triển, nên quan hệ văn hóa văn học ý nhiều Đặc biệt, xuất văn hóa học nhân học văn hóa văn hóa bắt đầu coi nhân tố chi phối văn học Đã có số tác giả theo hướng nghiên cứu Trần Đình Hượu, Trần Ngọc Vương, Đỗ Lai Thúy, Trần Nho Thìn Và, số cơng trình dịch giới thiệu Việt Nam hướng khẳng định” [27] Văn học nơi mà giá trị văn hóa dân tộc thể chân thực sâu sắc Do tác phẩm văn chương ưu tú thường phản ánh kết tinh giá trị văn hóa thời đại Đó giá trị văn hóa tinh thần hay vật chất biểu qua phương diện phong tục tập quán, hủ tục, sống sinh hoạt, người… Ngược lại, văn hóa tác động đến văn học qua cách miêu tả, cảm nhận, xử lí đề tài nhà văn trình sáng tác; đồng thời chi phối đến hoạt động tiếp nhận, thưởng thức, đánh giá độc giả Do đó, việc nghiên cứu văn học dân tộc tách rời với văn hóa dân tộc cách tiếp cận văn học từ góc độ văn hóa hướng tất yếu, xu hướng nghiên cứu khoa học; khơng khắc phục hạn chế định việc nghiên cứu văn học văn học mà khai mở thêm giá trị mới, ý nghĩa cho văn học Đỗ Bích Thúy nữ nhà văn xuất sắc văn học Việt Nam đương đại Nhà thơ Trần Đăng Khoa nhận xét rằng, chị “là bút nữ quan trọng mảng văn học đề tài miền núi” [4] So với cảm nhận đồng cảm, xót xa với hoàn cảnh người phụ nữ Chúa đất qua giọng văn “Chúa đất năm mươi tuổi Kể từ lấy vợ lần tới đẽ ba mươi năm Ba mươi năm chưa chọc vào vào đứa gái nào, vờn mèo vờn chuột, cấu xé, giày vò, làm cho thâm tím sống khơng sống, chết khơng chết” [24, 105] Sự cảm thương thể qua câu văn đầy éo le, bi kịch “Đêm có đứa gái bị gọi lên lại vừa lê vừa bò chuồng” [24, 105] Đỗ Bích Thúy khơng hiểu, cảm thơng mà trân trọng khát vọng tình yêu người phụ nữ Cái chết bất hạnh Bà Cả, Vàng Chở đặc biệt chết Chúa đất làm người đọc cảm thương đến xót xa khơng ngi Tóm lại, giọng điệu Đỗ Bích Thúy Chúa đất giọng trữ tình, thiết tha trìu mến gửi gắm tâm sự, thể tình cảm cá nhân riêng tư viết người nơi đây, người phụ nữ miền núi, chị thể giọng điệu cảm thương sâu sắc Thời gian không gian nghệ thuật Thời gian không gian nghệ thuật phạm trù nghệ thuật, sản phẩm sáng tạo nghệ sĩ thể quan niệm người nghệ sĩ sống Quan niệm thời gian không gian người miền núi khác với người miền xi Bởi vừa gắn với núi rừng, vừa mang sắc văn hóa riêng cộng đồng nơi Trong tiểu thuyết Chúa đất, Đỗ Bích Thúy thành công việc sáng tạo, xây dựng thời gian không gian nghệ thuật đặc trưng mang đậm dấu ấn văn hóa vùng cao Hà Giang thuật Thời gian nghệ Người Mơng Hà Giang có cách tính thời gian riêng, tính mùa Mùa nhắc đến chủ yếu Chúa đất mùa anh túc“Mỗi vụ anh túc” [24, 75], “anh túc đến mùa thu hoạch” [24, 87], “đã hai mùa thuốc phiện qua” [24, 98]… Cứ vụ anh túc trơi qua cho hết mùa Lồi lại trồng vào mùa đông,“trời lạnh đến mấy, trâu bò chết chuồng anh túc hoa, đậu quả” [24, 75] Trời lạnh “chẳng khiến hoa anh túc dừng nở, mà lạnh nở nhiều, to, cánh dày, mai cho nặng đầy nhựa” [24, 41] Mùa anh túc Đường Thượng mùa lao động người Mông Từ lúc trồng đến thu hoạch, người lao động phải vất vả, bỏ hết công sức vào nương anh túc từ rãi đất làm cỏ “Sùng Pà Xính làm cỏ nương anh túc” [24, 40] đến thu hoạch “tất nương anh túc canh phòng cẩn mật Người lớn trẻ đâu phải tránh xa nương anh túc Trồng xuống chăm cho tốt, xong việc Thu hoạch phải người nhà chúa đất làm” [24, 86] Có thể thấy, viết vùng cao Hà Giang, Đỗ Bích Thúy am hiểu sâu sắc đời sống văn hóa qua trang văn thể quan niệm thời gian “đặc sệt” cách nghĩ, cách cảm cách nói người nơi Nhân vật nhiều sáng tác Đỗ Bích Thúy thường người phụ nữ Cuộc sống người phụ nữ vùng cao gắn với công việc lao động suốt ngày dài nên có thời gian chiều tối họ sống thật với lòng Khơng phải ngẫu nhiên mà Đỗ Bích Thúy lại thường xuyên sử dụng khoảng thời gian buổi chiều ban đêm để bộc lộ, thể rõ tính cách nhân vật Bởi có khoảng thời gian đêm ấy, thấy mong mỏi, khao khát hạnh phúc Bà Cả chờ chồng, khơng người phụ nữ dằn, cứng nhắc ban ngày nữa, bà trở thành người vợ hiền dịu, thương chồng Nhưng khoảng thời gian rõ đơn, trống vắng, cảm giác chai lì tình cảm bà Bởi từ lấy Vàng Chở, Chúa đất ngủ với bà Chở giỏi chuyện chăn gối tất bà vợ, đâu Đà cho Chở theo, thích gật đầu đồng ý, tháng cho bạc gửi cho bố mẹ đẻ Bà Cả có ức Chở hộc máu, muốn giết chết ngón, thuốc độc, rìu, nước sơi nhìn thấy “thằng chăn ngựa úp mặt vào cặp vú trắng toát Vàng Chở”[24, 39] Nhưng việc bà khơng dám làm Vàng Chở tài sản Chúa Đà, làm với Chở phải Chúa Đà định Thời gian nghệ thuật Chúa đất thời gian tâm lý Đó kết nối khứ với Nhân vật Bà Cả phải bám víu vào khứ để sống thực Bà nhớ ngày làm dâu, nhớ đêm không ngủ ngắm gương mặt, thân hình Chúa Đà bà thấy u Đà hơn, thương Đà Chính nhớ nhung khứ khiến bà ngày đau khổ, tủi hận thấy Đà dẫn đứa gái lạ Ngay đường tìm đến chết, ngang qua cánh đồng hoa cải – nơi hai người gặp nhau, bà hồi tưởng lại ngày tươi đẹp ấy “hôm chúa đất ngang qua lúc bà nhổ cỏ cho luống cải… Bà không quên gương mặt vuông vức chúa đất, nụ cười sáng nắng, mắt nheo lại phía sau cải xanh” [24, 274] Rồi bà nhớ đến Vàng Chở, câu nói Chở ngày nhói lại bên ta bà “Sống mà chết sống làm gì…” [24, 275] Rồi bà gieo xuống vực sâu, tự kết liễu đời mình, dòng nước đen thẫm, lạnh buốt nuốt chửng lấy người khổ đau bà Không gian nghệ thuật Khơng gian nghệ thuật Chúa đất Đỗ Bích Thúy không gian sinh sống người miền núi Nó thể qua hai yếu tố khơng gian thiên nhiên không gian sinh hoạt Núi rừng không gian sinh tồn đồng bào, nơi có núi cao, vực sâu heo hút Núi non trập trùng đắm chìm sương, mây mờ tạo nên tranh thiên nhiên riêng nơi đây“Trời buổi sáng mà âm u tối đến nơi Miệng vực dòng sơng đầy sương mù Sương đặc quánh thả thuyền mà chèo được” [24, 159] Không gian núi rừng mở bạt ngàn gió “gió từ khe núi thổi ra… Trong gió có mùi mục Là mùi từ rừng già bay ra” [24, 110] Gió khắp nơi Nếu núi thể tính cách, số phận người gió thể tâm trạng, trạng thái tình cảm, cảm xúc người Khi chia tay“mùi cây, mùi gỗ mục, núi rừng vây xung quanh Xính với Vàng” [14, 143] Khi Xính rời nhà, làm vợ Chúa Đà có thèm chẳng ngửi mùi Xính khơng muốn xa người u, “Xính muốn đến lúc chết Xính chết với Vàng” [24, 144] Trong Chúa đất không gian sinh hoạt vật chất mang đặc trưng văn hóa vùng cao từ nhà ở, thói quen sinh hoạt, đến hoạt động lao động sản xuất, canh tác… Đó dinh thự gỗ Chúa có quy mơ lớn, đồ sộ Ở diễn cơng việc dọn dẹp, nấu nướng, chăn gia súc, phục vụ không lúc ngơi Trồng anh túc ngô cơng việc người dân Đưởng Thượng điều kiện canh tác khó khăn, bốn bề tồn núi nên có loại thích hợp để trồng Không gian thiên nhiên hay không gian sinh hoạt cộng đồng, không gian sống đồng bào Chúa đất ln đan xen, hòa trộn vào không gian đặc trưng đồng bào người Mông Không gian môi trường sản sinh giá trị văn hóa, lưu giữ giá trị văn hóa cho hệ người dân nơi Tiểu kết Ở chương này, muốn làm rõ vai trò yếu tố nghệ thuật tác phẩm việc biểu văn hóa dân tộc H’Mơng Đó cách tái hình tượng thiên nhiên người chân thật, gần gũi Ngôn ngữ giọng điệu vừa giản dị, vừa tự nhiên đỗi truyền cảm, có sức hút lớn cho độc giả Thời gian không gian nghệ thuật mang quan niệm riêng người vùng cao Tất yếu tố nghệ thuật góp phần xây dựng nên tranh văn hóa vùng cao Hà Giang đậm đà sắc dân tộc mà không bị trộn lẫn với vùng văn hóa khác KẾT LUẬN Qua tiểu thuyết Chúa đất, Đỗ Bích Thúy tái thành cơng “bức tranh văn hóa” vùng đất cực Băc Tổ quốc vừa chân thực, gần gũi khách quan qua việc chọn lọc tượng văn hóa để thể vào tác phẩm Nhà văn không ca ngợi, tự hào trước giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp mà lên án, vạch trần hủ tục, luật tục “xấu xa” thời xưa Đỗ Bích Thúy viết văn hóa truyền thống vùng cao với nhìn trân trọng, trìu mến đầy yêu thương đầy nước mắt Phương thức thể văn hóa tiểu thuyết Chúa đất thể qua yếu tố như cách xây dựng hình tượng, ngơn ngữ, giọng điệu đến không gian thời gian nghệ thuật mang đặc trưng, quan niệm riêng người miền núi Nhưng thành công xây dựng thành công hình tượng người vùng cao mộc mạc, chân chất Cuộc đời, số phận vẻ đẹp tâm hồn họ “đặc sản” văn hóa riêng nơi Đặc biệt người phụ nữ miền núi, Đỗ Bích Thúy thể lòng cảm thương sâu sắc Ngôn ngữ vùng cao tác phẩm vừa đơn giản, mộc mạc có phần suồng sã thể qua tên riêng vùng đất, tên người, cách xưng hô, giao tiếp, lối tư cách so sánh ví von đặc trưng người dân tộc thiểu số Giọng văn Đỗ Bích Thúy giọng điệu trữ tình phù hợp để thể tình u lứa đơi, cảnh sắc thiên nhiên lãng mạng, mơ mộng cá nhân riêng tư Không gian thời gian nghệ thuật mang đậm màu sắc núi rừng, thể rõ đặc trưng quan điểm, lối sống người miền núi Qua trình tìm hiểu đề tài Tiểu thuyết Chúa đất Đỗ Bích Thúy góc nhìn văn hóa chúng tơi có sở để khẳng định rằng Đỗ Bích Thúy có đóng góp quan trọng phát triển văn học đương đại Việt Nam Với sáng tác mang đậm phong vị văn hóa vùng cao, nữ nhà văn trẻ không tái thành công “bức tranh văn hóa” với đa dạng sắc màu với mà muốn gửi gắm thơng điệp, cất lên tiếng nói Hãy bảo tồn phát huy giá trị văn hóa tốt đẹp ấy! TÀI LIỆU THAM KHẢO [1] Điệp Anh 2001, Gặp hai nữ thủ khoa truyện ngắn trẻ, Văn nghệ trẻ, số ngày 11/3/2001 [2] Cao Minh Anh 2017, Nặng lòng với vùng cao voi- vung-caotintuc366097 [3] Minh Anh 2018, Đỗ Bích Thúy mắt tự tuổi 40 https // -bich-thuy-ra-mat-s ac h-tu-su-tuoi40/c/ fbclid=IwAR3Y6l35gm1bMhM4eIqw9c iHgis SQM8GgthtXlWHGTtC179fd7Hotls Cqo [4] Hồng Lan Anh 2018, Đỗ Bích Thúy-nhà văn đặc sản miền núi https // -bich-thuy-nha-van-dac -s an-mien-nui [5] Báo điện tử Đảng cộng sản Việt Nam 27/9/2013, Xây dựng văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà sắc dân tộc http//dangc ongs tien-tien-dam-da-ban-sac -dan-toc ml [6] Dương Thùy Chi 2013, Nhà văn Đỗ Bích Thúy viết đơi cánh giấc mơ https //baotintuc vn/van-hoa/nha-van-do -bich-thuy-viet-tren-doicanh- giac m [7] Phạm Vĩnh Cư 2004, Sáng tạo giao lưu, NXB Hội nhà văn [8] Phạm Thùy Dương, Cảm hứng cảm thương sáng tác Đỗ Bích Thúy Nguyễn Ngọc Tư, Văn nghệ Quân đội, số 661, 2001 [9] Trung Trung Đỉnh, Đọc truyện ngắn Đỗ Bích Thúy, Văn nghệ, số 5, 2007 [10] Nguyệt Hà 2015, Tình u khơng dùng sức mạnh để cương tỏa hua-dat-tinh-yeu -khong-the-dungsuc - [11] Nhiều tác giả 2006, Lí luận văn học, NXB Giáo dục [12] Nguyễn Thu Hà, Lê Thị Hường 2016, Những vùng thẩm mĩ tiểu thuyết Đỗ Bích Thúy, Tạp chí khoa học giáo dục, Trường Đại học Sư phạm Huế, số 0137/2016 [13] Lê Bá Hán – Trần Đình Sử - Nguyễn Khắc Phi 2015, Từ điển thuật ngữ văn học, NXB Giáo dục [14] An Kim 2018, Nhà văn nhà báo Đỗ Bích Thúy với hành trình trở https // h-thuy-voi-chuyenhanh- trinh-c ua-su-tro- ve/c/ fbclid=IwAR3nUoq9QTr0Mqv47F0FbIWwmRzoQ7 XE14s GGwb9yMLM0U6EGZU5JCWbpAY [15] Nguyễn Phương Liên 2006, Vẻ đẹp ngòi bút vùng cao https //vnexpress net/giai-tr i/ ve-dep-mot-ngo ml [16] Tuyết Loan 2016, Chúa đất Đỗ Bích Thúy đủ giàu hình ảnh để lên phim hua- dat %E2%80%9D-cua-do -bich-thuy-%E2%80%9Cdu-giau-hinh-anh-delen- phim%E2%80% fbclid=IwAR2_9kK0LGvzNqbyCwODqIbjKo OaXM-r0PoIOKnwIgZLHBVAdcFP3XmjRo [17] Lê Thanh Nghị 2007, Từ truyện ngắn người viết trẻ Tiếng đàn môi sau bờ rào đá, NXB Thanh niên [18] Hoàng Nhung 2015, Bản ngã người Chúa đấ https // ac h-ban-ngacon- nguoi-am-anh-trong-c hua-dat-2458308/ m [19] Hoàng Thu Phố 2015, Ám ảnh Chúa đất https // i-tr i/am-anh-c hua-dat/ [20] Hoàng Thu Phố 2015, Nặng lòng với Hà Giang /nang-long- voi- ha-giang-t intuc76652 [21] Trần Ngọc Thêm 1999, Cơ sở văn hóa Việt Nam, NXB Giáo dục [22] Cảo Thơm 2016, Đỗ Bích Thúy viết sách “sinh đơi” với kịch điện ảnh https // h-thuy-viet-sach-sinh-do i-voikich- [23] Đinh Thúy 2016, Chúa đất Đỗ Bích Thúy-Bi kịch tình u bạo chúa https // hua-dat-c ua-do-bic h-thuy-bikich-tinh- yeu-bao-c fbclid=IwAR2HdSZ2snpE6h49WauBd3AKqLQ3pwoBT7nW-brPII9I3rk4KRJXrXkXs s [24] Đỗ Bích Thúy 2016, Chúa đất, NXB Phụ nữ [25] Đỗ Bích Thúy 2017, Lặng yên vực sâu, NXB Hội nhà văn [26] Đỗ Bích Thúy 2005, Tiếng đàn môi sau bờ rào đá, NXB Công an Nhân dân [27] Đỗ Lai Thúy 2013, Quan hệ văn hóa văn học từ nhìn hệ thốn, uu/ly-luan-van-hoahoc /cac -binh- dien-cua-van-hoa/42-do-lai-thuy-quan-he-van-hoa-vavan-hoc -tu-c [28] Hữu Việt 2013, Đỗ Bích Thúy với văn học điện ảnh bic h-thuy-voi-van-hoc -va-dien- fbclid=IwAR1JI6P1wiNDSzT113ctacVx0hCeuJ8WyaJxs cui65 ZD29mrbFUDAAWJCbg ... biểu văn hóa Chúa đất Đỗ Bích Thúy Đóng góp khóa luận Đóng góp mặt lý luận Thông qua việc tiếp cận tiểu thuyết Chúa đất Đỗ Bích Thúy từ góc nhìn văn hóa, khóa luận góp phần làm rõ vấn đề lý thuyết. .. văn hóa tiểu thuyết Chúa đất Đỗ Bích Thúy Chương 3 Một số phương diện nghệ thuật biểu văn hóa tiểu thuyết Chúa đất Đỗ Bích Thúy NỘI DUNG Chương GIỚI THUYẾT CHUNG Mối quan hệ văn hóa - văn. .. tác phẩm văn học phương pháp văn hóa học Đóng góp mặt thực tiễn Khóa luận góp phần sâu tìm hiểu đặc điểm văn hóa tiểu thuyết Chúa đất Đỗ Bích Thúy, tiếp cận tác phẩm chị từ góc nhìn văn hóa Cơng - Xem thêm -Xem thêm Tiểu thuyết chúa đất của đỗ bích thúy từ góc nhìn văn hóa , Truyện nhà đó nhà Chu nước mạnh, dân giàu, Bắc Tề Tây Ngụy khởi nghịch ngoài bờ cõi. Chu chủ sai đại tướng Dương Chung làm Nguyên soái con là Dương Lâm làm Tổng quân, cử sáu mươi vạn binh chinh phạt Bắc Tề, Tây Lâm mặt như nhồi phấn, người cao chín thước, quen dùng đôi long bổng nặng ba trăm cân, sức mạnh như sư tử.... Tiểu thuyết Đỗ Thích kỳ án của Phan Khánh Một tiếng nói góp phần khôi phục sự thật lịch sử NGUYỄN KHẮC PHÊ NVTPHCM- Một sự trùng hợp ngẫu nhiên thật có ý nghĩa Vào đúng lúc tỉnh Ninh Bình chuẩn bị kỷ niệm 1050 năm Nhà nước Đại Cồ Việt 968-2018 và mở Lễ hội Hoa Lư, NXB Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh ấn hành Đỗ Thích kỳ án – tiểu thuyết lịch sử của Phan Khánh. Tuy tên sách là Đỗ Thích kỳ án, nhưng qua hơn 300 trang sách, tác giả đã đưa người đọc “sống lại” một giai đoạn lịch sử khá đặc biệt cách đây trên ngàn năm với sự kiện trung tâm là Đinh Bộ Lĩnh dẹp loạn 12 sứ quân, lên ngôi hoàng đế, lập nên nhà nước Đại Cồ Việt với kinh đô là Hoa Lư, nhưng rồi bị Đỗ Thích ám hại dẫn tới việc nhà Đinh kết thúc và mở đầu thời Tiền Lê… Trong “Lời giới thiệu” tác phẩm, nhà văn Ma Văn Kháng viết “Đỗ Thích là kẻ đã giết hai cha con vua Đinh Tiên Hoàng năm Kỷ Mão 979. Và Phan Khánh không phải là người đầu tiên viết về kỳ án này. Có điều là, trong khi để tâm nghiên cứu, lặn lội vào chiều rộng và bề sâu của sự việc… không thỏa mãn với những gì người trước đã viết mà ông cho là phi logic, quá dễ dãi… Phan Khánh đã cất công tìm hiểu thêm Việt sử lược, Tổng sử Giao Châu truyện cùng nhiều tài liệu văn bản khác, để từ đó và cuối cùng trình bày, miêu tả lại sự kiện, với mục đích chân thành là góp một tiếng nói nhằm khôi phục lại sự thật lịch sử như nó vốn có…”. Một thời kỳ xa tít tắp, một vùng đất thường gọi là “quận Giao Chỉ”, liên tục bị sự đô hộ của đế quốc Trung Hoa, mặc dù liên tục có những cuộc khởi nghĩa giành độc lập, từ Hai Bà Trưng, Bà Triệu, đến Lý Bí, Khúc Thừa Dụ, Dương Đình Nghệ…; mãi đến sau chiến thắng Bạch Đằng năm 938, Ngô Quyền xưng vương đóng đô ở Cổ Loa, thiết lập một chính quyền tập trung – nhà nước Việt Nam thực sự độc lập. Tiếc rằng ngay khi Ngô Quyền mất năm 944, 12 lãnh chúa chia nhau đất nước và xâu xé lẫn nhau. Nhắc qua thời “tiền sử” trước khi nước Đại Cồ Việt ra đời để thấy công lao dẹp loạn 12 sứ quân của Vạn Thắng Vương Đinh Bộ Lĩnh. Nói cho công bằng, trong 24 năm làm nên cơ nghiệp họ Đinh từ 944 đến 968, những tướng lĩnh “bạn cờ lau” như Nguyễn Bặc, Đinh Điền, rồi Lê Hoàn và Đinh Liễn con trai cả của Đinh Bộ Lĩnh đã đổ không biết bao nhiêu là công sức đánh đông dẹp bắc mới có ngày cậu bé lấy hoa lau làm cờ bày trận ở Đàm Thôn được xưng là “Đại Thắng Minh hoàng đế”. “… Mùa đông năm Mậu Thìn, hoàng thành Hoa Lư cơ bản xây xong, Vạn Thắng Vương quyết định đặt tên nước là Đại Cồ Việt… Nhà vua cũng chấp nhận danh hiệu “Đại Thắng Minh hoàng đế” mà quần thần tôn xưng… Rằm tháng chạp năm Mậu Thìn, Vạn Thắng Vương làm lễ đăng cơ, cả nước vui mừng lễ hội cho đến hết Tết Nguyên đán. Kinh thành Hoa Lư cờ hoa rực rõ, lễ hội liên miên. Các quan thứ sử, trấn thủ cùng các tướng lĩnh trụ cột đều được triệu về kinh đô, đất nước đã yên bình…” Do chính sử viết về giai đoạn này khá sơ lược, nên đọc Đỗ Thích kỳ án, độc giả thú vị được Phan Khánh “lôi kéo” vào mọi “ngõ ngách” rối rắm, phức tạp của “hậu cung đình”, “tận mắt” chứng kiến rất nhiều những sự tích cả ngàn năm vẫn là những “khoảng mờ” trong lịch sử, trong đó có “nghi án” Đỗ Thích – tất nhiên là theo tưởng tượng hay “hư cấu” của tác giả. Theo dã sử và giai thoại thì nhân vua say yến ban đêm, Đỗ Thích đã dâng vua đĩa lòng lợn rất ngon có tẩm thuốc độc! Như thế thì quả là “quá dễ dãi”; hơn thế, còn “dung tục hóa” nếu không muốn nói là hạ thấp vị thế nhà vua. Cả Đại việt sử ký toàn thư cũng chép Đỗ Thích làm chức lại ở Đồng Quan, đêm nằm trên cầu, bỗng thấy sao sa rơi vào miệng, Thích nghĩ là mình có mạng đế vương, nên ám hại cha con họ Đinh để lên ngôi nhưng rồi bị Đinh Quốc công Nguyễn Bặc bắt được đem giết… Sử gia viết thế cũng khá là “dễ dãi” nên tác giả Phan Khánh đã dày công xây dựng Đỗ Thích là một tên Hán gian khôn ngoan giấu mình bao năm chờ cơ hội nhà Đinh có mâu thuẫn sẽ ra tay, tạo cớ cho nhà Tống động binh tiến đánh Đại Cồ Việt. Sự “hư cấu” như thế là có cơ sở vì các triều đình Trung Hoa không bao giờ từ bỏ âm mưu thống trị hoặc đồng hóa nước ta. Chính sư phụ Bá Nguyên – người chủ trò “gài” Đỗ Thích tên thật của y là Hầu Nhân Đức sang đất Giao Chỉ đã huỵch toẹt mưu đồ đó “… Lần này Nhân Đức sang Giao Chỉ là mang lệnh của Hầu Nhân gia hiện là kiềm hiệu Thái sư miền Lĩnh Nam của Tống triều. Không những là bao gồm toàn bộ đất đai của Nam Hán mà cả Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam, Lâm ấp cho đến Phù Nam, Xiêm La… Tống triều quyết dùng mọi thủ đoạn… có thể cả đánh dẹp. Nhưng chủ yếu là đồng hóa tư tưởng. Chú trọng cả hai mặt Đồng hóa dòng máu và đồng hóa tư tưởng. Trong đó đồng hóa tư tưởng là quan trọng nhất, một lúc làm được nhiều người. Ngàn năm sau cũng không có chuyện nổi dậy vì nổi dậy để chống ai? Nổi dậy có nghĩa là phản quốc, “bài Hoa là phản quốc”…” Đọc chuyện ngàn năm trước, ngẫm lịch sử xưa nay mà thấy ghê sợ với mưu đồ Đại Hán. Với toan tính thâm hiểm ấy, Đỗ Thích đóng vai thầy tu đi khắc kinh Phật khắp nơi, tỏ ra thông tuệ vô cùng nên đã được Đinh Tiên Hoàng coi như “cố vấn”, nhưng hắn tỏ ra khiêm nhường chỉ nhận chức “Chi hậu nội nhân”, có thể vào ra cung cấm như người thân của Hoàng đế. Đó chính là điều kiện mà tên Hán gian ao ước. Chỉ còn chờ cơ hội… Cơ hội đó là lúc Đinh Tiên Hoàng “mắc mưu” Đỗ Thích “cố vấn” theo gương các vua Tàu lập đến mấy hoàng hậu, từ đó “bỏ trưởng lập ấu”, chọn thái tử kế vị là cậu bé mới 4 tuổi, yếu ớt; rồi “không may” cậu ta rơi xuống giếng chết. Thế là tiếng đồn lan truyền rằng Đinh Liễn – người con cả tài giỏi có công đầu dựng nghiệp nhà Đinh vì ghen tức không được phụ hoàng chọn kế vị đã mưu sát em trai! Không ai biết chắc dư luận ấy khởi phát từ Đỗ Thích hay Lê Hoàn, vị tướng giỏi đang chờ cơ hội lên ngôi! Thật may là Đinh Tiên Hoàng tỉnh táo, không nghe những lời đồn ác ý đổ tội cho Đinh Liễn. Đỗ Thích lo ngôi vua kế vị vào tay Đinh Liễn tài giỏi thì triều Tống khó nuốt được Đại Cồ Việt, nên lợi dụng đêm khuya vắng vẻ, bất ngờ tung “chưởng” ác hiểm mà bấy lâu y dùng phép “tán khí” để che giấu võ công thượng thặng của mình giết chết cả Đinh Tiên Hoàng và Đinh Liễn, rồi dùng khinh công vượt khỏi cấm cung, chạy thoát về phương Bắc… Sau đó thì “tấn kịch” Thái hậu Dương Vân Nga với Lê Hoàn diễn ra như trên các sân khấu những năm gần đây, tuy cách đánh giá về hai nhân vật này từ xưa đến nay còn nhiều khác biệt. Ngay cả sử gia Ngô Sĩ Liên cũng cho Lê Hoàn “bất trung, ép vua, cướp thái hậu”; nhưng lại có người ca ngợi Lê Hoàn là tướng tài và có công đánh bại quân Tống cả thủy lẫn bộ… Trở lại với Đỗ Thích kỳ án, nhà văn Ma Văn Kháng, trong “Lời giới thiệu” đã dẫn, cũng cho rằng “Cũng là hợp với logic lịch sử và cuộc sống, theo thiển nghĩ, khi tác giả lý giải Đỗ Thích chính là gián điệp nhà Tống…” Điều này hẳn là bạn đọc và các nhà nghiên cứu còn có những kiến giải khác nhau. Đó cũng là chuyện thường, khi sự thật đã bị cả ngàn năm che phủ… Cho dù vậy, Đỗ Thích kỳ án – ngoài sức hấp dẫn của lối viết theo kiểu tiểu thuyết võ hiệp với khung cảnh huyền ảo những núi cao vực thẳm, hang động, chùa chiền và “góp một tiếng nói nhằm khôi phục lại sự thật lịch sử” – còn gợi chúng ta suy ngẫm về những điều khá hệ trọng trong cuộc sống hôm nay. Đó là sự cảnh báo rằng khi thế giới còn những kẻ ôm mộng bá quyền thì chúng ta không bao giờ chủ quan, mất cảnh giác – không chỉ với mưu đồ xâm lược bằng vũ khí mà cả với những âm mưu thôn tính, đồng hóa bằng truyền bá tư tưởng, văn hoá, di dân, núp dưới các chiêu bài đẹp đẽ. Và việc hai triều Ngô và Đinh, từ đỉnh cao chiến thắng mau chóng suy tàn cũng là sự cảnh báo nạn “nội xâm” khởi phát từ tệ mê đắm quyền lực, giàu sang của các gia tộc, phe nhóm dẫn đến bị kịch “bó đũa” khi bị tách ra từng chiếc! Câu chuyện ngàn năm xưa mà nóng hổi tính thời sự! VĂN NGHỆ, 15/2018 >> XEM TIẾP THẾ GIỚI SÁCH… Post Views 158 Má Hồng Đỗ Tiến ĐứcTHỜI MỚI xuất bản 1968 Truyện Dài VH Miền Nam Trước 75 CHAPTERS 11 VIEWS 2707 Khi tôi tới văn phòng lầm việc thì đã gần ba giờ. Những kẹp hồ sơ trình xem, trình ký, những công văn mới tới để cao từng chồng khắp mặt chiếc bàn nhỏ. Ở phòng ngoài, tiếng máy chữ lách cách và những tiếng đối thoại ồn ào dễ kích thích tính ham làm việc của tôi. Trưa nay coi như tôi đã mất đi giấc ngủ thường lệ mỗi ngày khi ở tiệm cơm về. Những tờ nhật báo, những tờ tạp chí đã vùi kín tôi suốt hai tiếng đồng hồ triền miên trong sự sung sướng say đắm. Những giòng chữ in, những trang giấy rộng còn thơm mùi trinh tân xao xuyến như những giòng thư của người bạn lưu lạc phương trời xa gửi tới. Nên, tôi đọc, tôi đọc để đọc. Nhiều tin tức đã biết rõ hậu qui qua đài phát thanh. Nhiều thông cáo, tin buồn tin vui nơi cuối trang tư có ảnh hưởng gì đến tôi ? Hôm nay, buổi chiều tôi sẽ có thư Sài gòn nữa. Chị Dung ơi, tuần này chị nói với em chuyện gì nào ? Đỗ Tiến Đức sinh ngày 11 tháng 10 năm 1939 tại Sơn Tây, vào Nam năm 1954. Năm 1969 ông đoạt Giải Văn học Nghệ thuật Toàn quốc bộ môn văn với tác phẩm Má hồng. Những tác phẩm khác gồm có phim Ngọc Lan 1972, Yêu 1973, và Giỡn mặt tử thần 1975. Phim Giỡn mặt tử thần chưa kịp trình chiếu thì Việt Nam Cộng hòa sụp đổ. Đỗ Tiến Đức có công nhiều trong việc phát triển ngành điện ảnh Việt Nam khi ông tổ chức "Ngày Điện ảnh Việt Nam" ngày 22 Tháng 9, 1969. Vào ngày đó ông vận động tất cả các rạp chiếu bóng chỉ chiếu phim Việt Nam và không thu vé để khán giả vào xem thật đông, kích động ngành điện ảnh trong nước. Từ năm 1985, ông là chủ bút báo Thời Luận ở Los Angeles, Nam California. TÁC PHẨM Hoa niên 1954 Má hồng 1968 Phân cảnh phim Yêu 1972 Lối vào 1990 Vầng trăng trong mưa 1993 Tiếng xưa 2000 Những chuyện rất Việt Nam 2006 Tháng Tư 1975 2007 Bên em là bóng tối 2008

doc truyen tieu thuyet đỗ đỗ